Trang

Thứ Ba, 29 tháng 10, 2013

Người Pharisee và người thu thuế

Nhà thờ Ba Chuông, chủ nhật 26.10
Luke 18. Tiếp theo câu chuyện ông quan tòa lười và bà góa, Jesus kể chuyện về người Pharisee và người thu thuế. Người Pharisee cũng là dân Do Thái, nhưng họ là một phong trào có tính chính trị, xã hội, và tôn giáo với xu hướng khác với những người Do Thái khác. Trong kinh thánh, người Pharisee hay bị Jesus và các môn đệ chỉ trích là bọn đạo đức giả. Trong câu chuyện này cũng vậy, một ông Pharisee vào nhà thờ, chả xin xỏ gì, chỉ nói rằng mình là người công chính, hay cho tiền kẻ nghèo, ăn chay nhiều hơn bình thường. Còn một ông là người thu thuế, đến xin chúa tha thứ vì ổng làm nghề tội lỗi. Thời đó, người thu thuế làm việc cho triều đình để lấy tiền thuế của dân, có lẽ tiền thuế thì cao, mà triều đình thì cũng không chính danh vì lý do Do Thái khi đó bị Rome đô hộ; vì thế nghề thu thuế bị coi là thất đức.

Thật ra, ông Pharisee không xin xỏ, mà là cảm ơn chúa đã giúp cho ông không bị rơi vào cảnh xấu, không phải làm việc xấu, như người thu thuế kia. Như vậy, mục đích đến nhà thờ của ổng cũng chính đáng chứ. Không lẽ đến chỉ để xin xỏ. Còn ông thu thuế kia, vì lý do gì mà làm nghề thất đức mà lại không từ bỏ nghề đó, vừa hành nghề xấu vừa xin tha tội là lý làm sao? Xem ra trong 2 người, chưa chắc ai đã đạo đức giả hơn ai. Jesus chê người Pharisee, vì cho ông ta là kẻ kiêu ngạo, trước mắt chúa chả có ai vô tội, ai cũng phải có tội gì mới được. Theo chúa thì nhục vậy đó, chết rồi thế nào cũng bị rủa xả đã đời.

Kết thúc lễ, ca đoàn Đa Minh Ba Chuông cầu nguyện cho Giám mục Phero ở Vinh được chúa phù hộ chống lại thế lực xấu, cả cộng đoàn cùng đáp lời "xin chúa nhận lời chúng con". Mình tự hỏi trong những người ở đây, bao nhiêu người biết chuyện gì đang xảy ra, bao nhiêu người biết ông Phero Hợp, bao nhiêu người có đủ lý trí và kiến thức để tìm hiểu cái nhìn đa chiều, và thực ra thì có bao nhiêu người quan tâm chuyện ở xứ Nghệ nó là cái quái quỷ gì. Với nhà thờ chuyện này không quan trọng. Ca đoàn cầu nguyện, cộng đoàn đáp ca, càng đông càng tốt, có thể chúa sẽ dễ nghe thấy hơn. Nhà thờ khoái chí khi định vị mình là phía đối nghịch với chính quyền, là phe có chính nghĩa, là dân của chúa, là chả bao giờ sai. Sức mạnh của nhà thờ đến từ sự chống đối chính quyền, coi thường chính quyền, coi thường tôn giáo khác, coi thường tự do không tôn giáo. Sức mạnh đó sẽ kéo dài được bao lâu? Khi nào dân trí tốt lên, đất nước này mạnh lên, hy vọng nhà thờ sẽ hết chỗ bấu víu.

Thứ Hai, 21 tháng 10, 2013

Luke 18: ông quan tòa không sợ chúa và bà góa

Truyện này nghe ở Ba Chuông, lễ thiếu nhi sáng chủ nhật, kể về một ông quan tòa và một bà góa già. Bà này có gì oan ức, nên cứ đến khiếu nại với ông quan. Lẽ ra theo chức phận, ông ta phải xử cho bà, nhưng ông lại không làm thế. Vậy nên bà già phải đến cửa quan nhiều lần, riết rồi ông ta phải chịu xử cho bà, để khỏi bị làm phiền. Jesus kể chuyện này cho học trò nghe, bảo rằng ông quan tòa kia vốn không sợ thượng đế, cũng coi khinh người ta, mà còn phải xử cho bà góa, thì con người hãy cứ cầu nguyện nhiều nhiều, chắc chắn rồi chúa sẽ lắng nghe và ban phúc. Kết luận thêm 1 câu: "chỉ sợ khi Con của Người đến, thì không biết người ta còn niềm tin không".

Hứ!!! chuyện dụ ngôn gì kỳ cục vậy. Trên skepticsannotatedbible, Steve Wells bảo ông quan tòa nhảm nhí kia là hình ảnh của chúa (lười biếng, thù hận, bất công), nhưng đúng ra Jesus chỉ lấy ông quan tòa ra để nhấn mạnh rằng, nếu như một ông quan tòa nhảm nhí kia mà còn phải đứng ra phân xử cho bà góa vốn không có ai chống lưng, thì thiên chúa chắc chắn sẽ phân xử cho dân của ngài. Thế nhưng, Jesus kể chuyện này xem ra vẫn dở ẹt. Thứ nhất, nếu không đề cập chuyện ông quan tòa là người không sợ thiên chúa thì cũng chả ảnh hưởng gì, vậy Jesus đề cập để làm cái gì? Thứ hai, chuyện này hàm ý mọi người cứ cầu nguyện cho nhiều, chúa nghe mãi phát mệt rồi sớm muộn cũng sẽ phải có hành động gì thôi (chúa cũng biết mệt!). Thế không lẽ chúa cũng sợ người ta cầu nguyện nhiều nên mới ra tay giúp? Giờ mới biết con người nói nhiều cũng là cách làm chúa sợ. Bởi vậy phải thông cảm cho những người lấy phải vợ lắm lời. Thứ ba, nếu chúa lo rằng khi Con của Người đến thì không biết còn niềm tin trên trái đất không, thì tại sao chúa không gửi con quay lại trái đất cho mau. Ông quan tòa kia đứng ra phân xử cho bà góa vì sợ nghe nhiều nhức óc, chứ có phải vì sợ bà ta chán không đến khiếu nại nữa đâu.



Thứ Năm, 17 tháng 10, 2013

Christian scientists

http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_Christian_thinkers_in_science
http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_Roman_Catholic_cleric–scientists

Mình luôn chủ trương cố gắng làm sao để kiểm chứng thông tin, coi như một phương pháp của "critical thinking" (suy nghĩ với tinh thần phê bình, dịch thế cũng chưa hay lắm, hehe). Nhân đọc sách "Why I am not a Christian - Four conclusive reasons to reject the faith", mình mon men lên Amazon xem họ nói gì. Tất nhiên là mình đồng ý với tác giả rồi, nhưng những người khác thì chưa chắc. Nhờ thế mà biết được thuyết Big Bang là do một thầy tu người Bỉ đề xướng, và các nhà khoa học thì tìm ra bằng chứng cho thuyết này. Tìm hiểu tiếp thì ra danh sách các nhà khoa học tin vào Thượng Đế tại các địa chỉ wiki ở trên. Mình chưa đọc kỹ danh sách và tìm hiểu về sự nghiệp của các vị này, nhưng thấy thật thú vị vì bên cạnh một đám thần học nói năng lộn xộn, cũng có nhiều người có tinh thần khoa học dù sống trong môi trường Thiên chúa giáo. Có thể nói một nhóm là bọn sinners còn những người kia là redeemers. Hahaha!!!

Kế hoạch là tìm hiểu danh sách này. Mình nghi rằng trong danh sách này có thể lọc ra được những vị đi theo khoa học đến nỗi sau này xung khắc với nhà thờ. có những phát kiến bị nhà thờ lợi dụng bảo là đấy là bằng chứng của chúa (ghét nhất là chuyện hạt Gigg gì đó bị đặt là hạt của chúa), và cũng có thể có đâu đó danh sách những nhà khoa học bị nhà thờ bách hại (như Bruno, Galileo), chống đối (như Darwin).

Dù sao đi nữa, đến thời nay thì có vẻ TCG đã hết ảnh hưởng được đến khoa học rồi. Mừng quá!

Lumbini

Bài trên Giao Điểm về Lumbini, tâm điểm của cuộc tranh giành ảnh hưởng đối với Phật Giáo giữa TQ và ÂĐ
http://www.giaodiemonline.com/noidung_detail.php?newsid=7939
http://thuvienhoasen.org/D_1-2_2-85_4-19265_5-50_6-4_17-180_14-1_15-1/trung-quoc-va-an-do-tranh-danh-nhau-mot-bieu-tuong-phat-giao.html

Trung quốc và Ấn Độ tranh dành nhau một biểu tượng Phật giáo
Hoang Phong chuyển ngữ
đăng ngày 16/10/2013

Tờ nhật báo uy tín Le Monde của Pháp ngày 18 tháng 9 năm 2013, trong mục Địa Lý và Chính Trị và qua một bài viết của  ký giả Frédéric Robin đặc phái viên ở New Delhi, đã nêu lên các mưu đồ và tham vọng quốc tế nhằm khai thác thánh địa Phật Giáo Lâm-tì-ni (Lumbini). Dưới đây là phần chuyển ngữ.
Thật là cả một sự tranh dành ảnh hưởng vô cùng khốc liệt hiện đang bùng lên trong dãy núi Hy-mã-lạp-sơn. Hai nước Trung Quốc và Ấn Độ đang đối đầu nhau trước biểu tượng của Đức Phật, tượng trưng cho sự đoàn kết giữa các dân tộc Á Châu. Quả thật đây là một cuộc đọ sức không gây ồn ào, thật kín đáo và vô cùng bí mật, tuy nhiên không phải vì thế mà kém phần quyết liệt. Ngoài các mặt trận đã được dàn ra giữa hai siêu cường Á Châu (như sự tranh chấp biên giới, chạy đua về năng lượng, tranh dành ảnh hưởng ở Ấn Độ Dương...) thì một mặt trận mới cũng đang được mở ra với những "đòn chính trị" thật quy mô. Nếu dựa vào cách nói đang thịnh hành trong thời buổi ngày nay thì có thể bảo rằng cuộc tranh dành kín đáo chưa được công bố ấy là cả một mặt trận tranh dành "quyền lực mềm" ("soft power"). "Quyền lực mềm" là một cách mà các siêu cường ngày nay thường sử dụng để thăm dò phản ứng của nhau, ngoài các hình thức biểu dương sức mạnh khác. "Quyền lực mềm" Phật Giáo với một tầm ảnh hưởng rộng lớn mang tính cách toàn cầu là cả một tiềm năng mà bất cứ một quốc gia nào tự cho mình là nước lãnh đạo Á Châu đều phải quan tâm đến.
            Trong các phòng khách sang trọng và kín đáo dưới tầng hầm của một khách sạn năm sao ở New Delhi (thủ đô Ấn Độ) các buổi họp đầu tiên của International Buddhist Confederation (IBC / Liên Đoàn Phật Giáo Thế Giới) đã diễn ra từ ngày từ 9 đến 12 tháng 9 vừa qua, đánh dấu giai đoạn chín muồi của sự tranh chấp trên đây. Trên phương diện chính thức thì IBC (Liên Đoàn Phật Giáo Thế Giới) chỉ giữ vai trò của một tổ thức "Liên Hiệp Quốc Phật Giáo" (Nations Unies du Bouddhisme), tức là một phương tiện nhằm gom tất cả các học phái - Mahayana (Đại Thừa), Hinayana (Tiểu Thừa), Vajrayana (Kim Cương Thừa) - vào một di sản tâm linh chung cho 400 triệu tín đồ trên toàn thế giới. Sự hiện diện trong các buổi họp mặt ở New Delhi của các đại biểu đến từ khoảng bốn mươi quốc gia trên thế giới đã cho thấy một tiếng vang nào đó. Dầu sao thì cũng còn quá sớm để tiên đoán tương lai của IBC. Hiện nay, người ta chỉ có thể biết một cách chắc chắn là dự án trên đây là do nước Ấn đưa ra - mà người đứng ra tổ chức là Lạt-ma Lobzang, một nhân vật thân cận của triều đại Nehru-Gandhi - không phải chỉ mang mục đích tôn giáo. Chủ đích Địa lý Chính trị (Géopolitique / Geo-policy) hiện ra thật rõ rệt.
            Tổ chức Liên Đoàn Phật Giáo Thế Giới (IBC) do Ấn Độ thành lập là nhằm chống lại các sinh hoạt của một tổ chức khác gọi là World Buddhist Forum (WBF / Diễn Đàn Phật Giáo Thế Giới) dưới sự bảo trợ của Trung Quốc. Diễn Đàn này được thành lập sau các buổi hội họp được tổ chức ở Hàng Châu (Hangzou) trong vùng phía nam Thượng Hải (Shanghai) vào năm 2006. WBF (Diễn Đàn Phật Giáo Thế Giới) là một công cụ mà Bắc Kinh sử dụng để o bế (trong nguyên bản là chữ amadouer / coax / vuốt ve) các tập thể Phật Giáo bằng cách hứa hẹn một sự đỡ đầu thân thiện. Tổ chức này nằm trong chính sách ngoại giao tích cực nhân danh Phật Giáo, được đưa ra liên tiếp từ mười năm nay qua các cuộc triển lãm lưu động về chiếc "răng" và đốt "ngón tay" Phật, được xem là xá lợi của chính Đấng Giác Ngộ mà Trung Quốc đang lưu giữ. Năm 2012 trong lần họp thứ ba của WBE tổ chức tại Hồng Kông, một mảnh xương sọ được xem là của chính Đức Phật - khám phá ra hai năm trước đó ở Nam Kinh (Nankin) - được đưa ra trưng bày một cách trang trọng.
Địa lý Chính Trị trong vùng Hy-mã-lạp-sơn là cả một sự thách đố
            Nhìn qua thì các buổi họp của Diễn Đàn Phật Giáo Thế  Giới (WBF) do Bắc Kinh giật dây cũng không đến nỗi nào thua kém so với các buổi họp của Liên Đoàn Phật Giáo Thế Giới (IBC) được tổ chức ở New Delhi (do Ấn Độ chủ xướng). Tuy nhiên thật hết sức khó cho tổ chức Diễn Đàn Phật Giáo Thế Giới (WBF) vượt xa hơn biên giới của các nước thuộc khối Trung Quốc (gồm Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan và các cộng đồng Đông Nam Á), trong khi đó thì Liên Đoàn Phật Giáo Thế Giới (IBC) đã mở ra một chân trời rộng lớn hơn. Sự khác biệt trên đây một phần là do ảnh hưởng của vấn đề Tây Tạng. Trong các buổi họp của Diễn Đàn Phật Giáo Thế Giới (WBF / do Trung Quốc tổ chức), Gyancain Norbu tức là vị Panchen-lama [nhân vật đứng hàng thứ hai trong Phật Giáo Tây Tạng - ghi chú trong nguyên bản] do Bắc Kinh chọn lựa (được chỉ định là vị tái sinh của vị tiền nhiệm) và cố tình mang ra dàn cảnh. Những người ủng hộ Đức Đạt-Lai Lạt-Ma tức là vị lãnh đạo tối cao của Phật Giáo Tây Tạng đang lưu vong ở Dharamsala (Ấn Độ)không hề công nhận sự hợp pháp của vị này. Một trong các chủ đích của Diễn Đàn Phật Giáo Thế Giới (WBF / do Trung Quốc tổ chức) là mang Panchen-lama thứ XI ra trưng bày trước cộng đồng thế giới với mục đích hy vọng có thể chính thức hóa vị này, thế nhưng hy vọng đó cho đến nay thật hết sức mong manh. Qua những bài diễn văn yêu nước cho rằng xứ sở Nóc Nhà của thế giới (tức là nước Tây Tạng)thuộc lãnh thổ Trung Quốc do chính Panchen-lama đọc lên cho thấy vị này là người ủng hộ Bắc Kinh. Trong khi đó những người trung thành với Đức Đạt-Lai Lạt-Ma lại hiện diện đông đảo hơn trong tổ chức Liên Đoàn Phật Giáo Thế Giới (IBC) đặt trụ sở ở New Delhi. Trên thực tế IBC đã dựa vào ánh hào quang tỏa rộng mà vị "Đại Dương Trí Tuệ" (tức là Đức Đạt-Lai Lạt-Ma XIV) đã tạo được cho toàn thể gia đình Phật Giáo với những biên giới rộng lớn, vượt xa hơn tầm ảnh hưởng của các học phái Phật Giáo Tây Tạng. (Ảnh bên: Panchen-lama (BBC World)
            Giữa cảnh tranh dành đó, mỗi quốc gia (tức Trung Quốc và Ấn Độ) đều tìm cách đưa ra đủ mọi bằng chứng nhằm dành chính nghĩa về phần mình. Trung Quốc không ngớt hô hào rằng mình là quốc gia có số tín đồ Phật Giáo đông đảo nhất thế giới. Về phía Ấn Độ, nơi mà Phật Giáo đã bị Ấn Giáo đông đảo hơn lấn lướt qua nhiều thế kỷ, thì cho rằng Đức Phật đã được sinh ra trên đất Ấn. Phái bộ Azoka giữ trọng trách tổ chức IBF ở New Delhi tuyên bố rằng "Ấn độ chính là cội nguồn của Phật Giáo". Sự khẳng định trên đây cần phải được xét lại, bởi vì Lâm-tì-ni nơi Đức Phật đản sinh vào thế kỷ thứ VI trước Tây Lịch, thật ra là thuộc lãnh thổ của nước láng giềng Nepal, và người dân Nepal thì không hề tán đồng sự mạo nhận đó của Ấn Độ. Dầu sao các thánh địa khác của Đức Phật và các đệ tử của Ngài - chẳng hạn như Bồ-đề Đạo Tràng (Bod Gaya), Tiên Uyển (Sarnath), Na-lan-đà (Nalanda)... - rõ ràng là thuộc vào lãnh thổ Ấn, và New Delhi bắt đầu đẩy mạnh các kế hoạch khai thác ngành du lịch tâm linh.
            Chính trong lãnh vực này đang diễn ra một trận đấu thật ngoạn mục giữa Trung Quốc và Ấn Độ xoay quanh "quyền lực mềm" Phật Giáo. Nhằm đối đầu với con đê khổng lồ của Ấn Độ, Trung Quốc đã bọc hậu và tràn ngập phía sau các thánh địa. Năm 2011, Tổ Chức Phi Chính Phủ (Organisation Non Gouvernementale, ONG / Non-governmental Organisation, NGO) đặt tại Hồng Kông liên hệ với Bắc Kinh là Asia Pacific Exchange and Corporation Foundation (APECF / Cơ Quan Trao Đổi và Hợp Tác giữa các Quốc Gia Á Châu trong vùng Thái Bình Dương) đề nghị với người Nepal là sẽ đầu tư 3 tỉ đô-la (2,25 tỉ euros) - tương đương với 85% thuế thu nhập của toàn xứ Nepal - để "phát triển" thánh địa Lâm-tì-ni, nơi đản sinh của Đức Phật. Sáng kiến này bất ngờ làm bùng lên một sự hăng say trong toàn vùng Hi-mã-lạp-sơn. APECF (tức Cơ quan trao đổi và hợp tác trên đây) chọn ngay Pushpa Kamal Dahal làm người đại diện cho chương trình trên đây ở Nepal, nhân vật này mang bí danh là "Prachanda", nổi tiếng là một người khuấy động, trước đây từng là thủ lãnh của nhóm cựu-nổi-loạn theo chủ nghĩa Mao (Maoism) đã được hợp thức hóa sau hiệp ước hòa bình ký kết vào năm 2006. Prachanda cũng đã từng làm thủ tướng Nepal vào các năm 2008 và 2009.
Có quá nhiều dự án
            Trùng tu Lâm-tì-ni là một câu chuyện cũ mèm, thế nhưng gần đây lại được hâm nóng trở lại. Câu chuyện bắt đầu từ năm 1970 khi một kiến trúc sư người Nhật là Kenzo Tange dưới sự bảo trợ của Liên Hiệp Quốc đã đưa ra một dự án về vấn đề này. Thế nhưng sự nhiệt tâm ban đầu đã bị sa lầy nhanh chóng trong các ngõ ngách quan liêu của xứ Nepal và tình trạng bất ổn nội bộ của một xứ sở bé tí nằm kẹt giữa Trung Quốc và Ấn Độ trong vùng Hy-mã-lạp-sơn. Năm 2010, bỗng dưng  người ta lại quan tâm đến Lâm-tì-ni với sự hình thành của một dự án mới, do một nhóm người Mã Lai gốc Trung Quốc theo Phật Giáo Tây Tạng đưa ra. Dự án này nhằm biến Lâm-tì-ni thành một nơi du lịch đại chúng dành vào việc hành hương, tương tự như thánh địa Mecca (La Mecque / Mecca) của người Hồi Giáo.
            Thật rõ ràng đây là một dự án "ăn cắp" của Cơ Quan Trao Đổi và Hợp Tác giữa các Quốc Gia Á Châu trong vùng Thái Bình Dương (APECF) do Trung Quốc giật dây. Bề ngoài chương trình này được điều hành bởi một nhân vật rất bí mật tên là Xiao Wunan dưới sự chỉ đạo của các cấp cao trong Đảng Cộng Sản Trung Quốc, và được đẩy mạnh trong các cộng đồng người Hoa vùng Đông Nam Á. Sự giao hảo thân thiện với nhóm nổi loạn theo chủ nghĩa Mao của Nepal do Prachanda lãnh đạo cho thấy APCEF phải chịu một áp lực nào đó và đã biến thành một sức mạnh đang lên trong bối cảnh sôi sục của thánh địa Lâm-tì-ni. Mùa xuân năm 2011, lại thấy xuất hiện hai nhân vật mới đưa ra một dự án khác, thế nhưng dự án này lại cũng chỉ là một sự vay mượn cả đường lẫn bột với dự án của người Mã Lai trước đây, chỉ khác là được hậu thuẫn bởi một sức mạnh chính trị quan trọng hơn nhiều. Vài tháng sau đó thì một diễn viên thứ ba lại xuất hiện: đấy là kiến trúc sư Hàn Quốc Kwaak Young Hoon, là một người đã từng quan tâm đến Lâm-từ-ni từ lâu trước đó. Người kiến trúc sư này được sự ủng hộ của Korea International Cooperation Agency (KOICA / Cơ Quan Hợp Tác Quốc Tế Hàn Quốc) là một cơ quan trực thuộc chính quyền Seoul(Nam Hàn).
            Tóm lại hiện nay đang có quá nhiều dự án liên quan đến Lâm-tì-ni nơi đản sinh của Đức Phật. Giữa cảnh hỗn độn đó, vào năm 2002 lại bắt đầu xảy ra các cuộc tiếp xúc giữa các nhóm trên đây với mục đích phối hợp các sáng kiến theo các đường hướng khác nhau nhằm tìm cách lôi kéo sự chú ý của Liên Hiệp Quốc. Chẳng phải là di tích Lâm-tì-ni đã được cơ quan UNESCO đưa vào danh sách di sản của nhân loại hay sao? Thế nhưng trong đầu óc mỗi người hình như đều phát sinh một thứ cảm tính nghi ngờ cho rằng chắc hẳn phải có những âm mưu nào đó tàng ẩn phía sau những sự lèo lái trên đây. Thế nhưng ai lèo lái ai? Và ai tìm cách hất chân ai? Chính Kwaak Young Hoon (kiến trúc sư Hàn Quốc trên đây) đã từng tiết lộ một giai thoại cho báo Le Monde với mục đích thăm dò mức độ nghi ngờ đang tàng ẩn kín đáo trong bối cảnh trên đây. Khi vừa mới gia nhập vào cuộc chạy đua này, vị kiến trúc sư Nam Hàn đã nhận được ngay một thông điệp của một vị Bộ Trưởng trong chính quyền Katmandou (Nepal) - tất nhiên là dưới áp lực của nhóm nổi loạn theo chủ nghĩa Mao - phải trưng ra bằng cớ sẽ "không chống lại Trung Quốc". Kiến trúc sư Kwaak đành phải tuyên bố rằng mình "không chống Trung Quốc".
"Đức Phật là người Ấn"
            Trước những sự việc xảy ra trên đây, Ấn Độ cũng bắt đầu cảm thấy nao núng trước sự khuấy động của tổ chức APCEF thiên Bắc Kinh. Vị chủ tịch Indian Council for Cultural  Relations (ICCR /  Hội Đồng Quan Hệ Văn Hóa Ấn Độ) và đồng thời cũng kiêm nhiệm chức chủ tịch văn phòng Ngoại Giao của Đảng Quốc Đại (Parti du Congrès / Congress Parti / một đảng chính trị quan trọng của Ấn Độ) hiện đang cầm quyền, là Karan Singh đã lên tiếng như sau: "Ấn Độ sẽ không thể làm ngơ trước các công trình phát triển Lâm-tì-ni", tất nhiên điều này cho thấy rằng việc phát triển Lâm-tì-ni là một trong những công cụ nhằm củng cố "quyền lực mềm" của Ấn Độ. Thế nhưng vị chủ tịch Singh thì lại xác nhận rằng lý do chính thức là vì "Đức Phật là người Ấn Độ". Dầu sao thì sự kiện này còn là - hay đúng hơn nhất thiết là - một kế hoạch chiến lược.
            Dưới con mắt của người Ấn, tham vọng của Trung Quốc về một vùng thánh địa Phật Giáo nổi tiếng là Lâm-tì-ni, chỉ cách biên giới của Ấn vài cây số, là cả một sự thách thức lớn lao trên phương diện địa lý chính trị. Phải chăng một mối bức xúc cũng đang bùng lên trong chính quyền New Delhi hay chăng?  Người Ấn rất e ngại là nếu dự án của Cơ Quan Trao Đổi và Hợp Tác giữa các Quốc Gia Á Châu thuộc Thái Bình Dương APCEF (thân Trung Quốc) thành công thì tất nhiên Trung Quốc cũng sẽ gây được ảnh hưởng đối với các nhà sư trong vùng Hy-mã-lạp-sơn, nhằm chờ đợi sau này khi Đức Đạt-Lai Lạt-Ma viên tịch sẽ kiểm soát toàn bộ cộng đồng người Tây Tạng. Một viên chức cao cấp của chính phủ Ấn Độ trước đây là Jayadeva Ranade hiện đang được thu dụng trở lại trong việc phân tích chiến lược, đã tỏ ra rất lo ngại khi tuyên bố rằng: "Trung Quốc có thể sẽ mượn Lâm-tì-ni để thành lập một đạo quân thứ năm dàn ra trước cửa ngõ của nước Ấn"
            Dự án của APECF cũng đã cho thấy một vài dấu hiệu đuối sức - thế nhưng chắc là sẽ không bị hủy bỏ - lý do là tình trạng thù địch đang nghiêm trọng. Các người Phật Giáo Nepal hết sức bực tức vì tất cả hai bên đều không hề quan tâm đến họ, do đó họ cũng huy động các lực lượng trong tay mình để chống lại "âm mưu cướp đất" (spoliation foncière / land dispossession) đang hăm dọa tập thể người địa phương (tức sắc tộc Tharu) đang sinh sống chung quanh Lâm-tì-ni trong vùng đồng bằng Teraï. Dù chỉ mang tính cách địa phương, thế nhưng Ấn Độ không hề nhìn phong trào trên đây với con mắt bàng quang. Một thành viên Phật Giáo thuộc phong trào này ở New Delhi thú nhận rằng: "Người Ấn giúp đỡ chúng tôi trên mặt tinh thần".  Mọi sự hiện nay cũng đã trở nên sáng tỏ hơn, và một vị lãnh đạo Phật Giáo Nepal cũng đã từng tuyên bố như sau: « Lâm-tì-ni đã trở thành tâm điểm của cả một « cuộc chơi lớn » giữa Ấn Độ và Trung Quốc ». Nơi đang gây ra chấn động và cơn sốt trên đây cũng là điểm gặp nhau giữa những người tu hành, những tay khuấy động thừa cơ nước đục thả câu, các chính trị gia, các nhà tranh đấu bản địa (người dân thiểu số thuộc các sắc tộc địa phương), và cả một bọn trục lợi cá mè một lứa.

Vài lời ghi chú của người dịch

            Lâm-tì-ni nằm trong vùng đồng bằng Taraï phía nam xứ Nepal và là nơi đản sinh của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Năm 249 trước Tây Lịch vua A-dục và nhà sư Ưu-bà-cúc-đa (Upagupta) vừa là thầy vừa là quốc sư của đế quốc của ông, cả hai cùng đến viếng Lâm-tì-ni, lúc đó là một ngôi làng trù phú. Vua A-dục cho xây dựng tại nơi này bốn ngôi chùa và một trụ đá cao sáu thước. Trên trụ đá có khắc một câu như sau: " Vị vua yêu quý của các thiên nhân là Piyadasi (một tên khác của vua A-dục) đã đích thân đến viếng nơi này vào năm thứ 20 sau ngày đăng quan. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã sinh ra tại nơi đây...". Dựa vào các chi tiết khác khắc trên trụ đá thì Đức Phật sinh vào năm 623 trước Tây Lịch.
            Ngược về bốn thế kỷ trước đó, tức là trước khi vua A-dục và nhà sư Ưu-bà-cúc-đa đến đây thì ngôi làng Lâm-ti-ni là một khu vườn rộng lớn thuộc xứ Kiều-tát-la (Kosala) của nhà vua Tịnh Phạn (Suddodhana).  Kinh sách bằng tiếng Pa-li cũng như bằng tiếng Phạn đều có nói đến khu vườn này và cho biết đây là một khu vườn mênh mông, thật thanh tú và có trồng nhiều cây sala. Sala tên khoa học là Shorea robustatrổ hoa rất đẹp.
            Hôm ấy là giữa tháng năm và cũng vào giữa mùa xuân, nơi kinh đô Ka-tì-la-vệ (Kapilavastu) hoàng hậu Mai Da (Maya Devi) vợ vua Tịnh Phạn, dù đang có mang thế như vẫn quyết định về thăm cha mẹ sinh ra mình ở thị trấn Devahada. Nào có ai ngờ được là quyết định bất ngờ ấy của một bà hoàng hậu một xứ bé tí thu mình duới chân dãy Hy-mã-lạp-sơn đã đánh dấu một biến cố lớn trong lịch sử nhân loại. Đi được nửa đường, Hoàng hậu và các người tùy tùng dừng lại nghỉ trong khu vườn Lâm-tì-ni xinh đẹp. Trong khu vườn có xây một hồ nước trong để dân chúng trong vùng đến tắm. Hoàng hậu và một vài người hầu cũng xuống tắm. Sau đó hoàng hậu ngồi tựa vào một gốc cây sala nghỉ ngơi. Thế rồi hoàng hậu bỗng nhiên cảm thấy chuyển bụng. Bà bèn đứng lên, một tay nắm chặt một cành cây sala, một tay quàng vai một người hầu và sinh ra thái tử Tất-đạt-đa Cồ Đàm từ "bên cạnh sườn" (xem hình). Đứng để sinh đẻ là một tập tục lâu đời ở Á Châu và gần đây vẫn còn thấy ở một vài sắc tộc.
            Thái tử Tất-đạt-đa không sinh ra trong chốn cung điện mà sinh ra dưới một gốc cây trong khu vườn Lâm-tì-ni như bất cứ một kẻ vô gia cư nào khác. Ba mươi lăm năm sau vào giữa mùa xuân và cũng vào một đêm giữa tháng năm trăng tròn, dưới một gốc cây trong một khu rừng hoang vắng, thái tử Tất-đạt-đa đạt được Giác Ngộ và trở thành một vị Phật. Đức Phật thuyết giảng lần đầu cũng dưới một gốc cây nơi khu vườn Tiên Uyển (Sarnath). Tám mươi tuổi, kiệt lực, Đức Phật cũng lại nằm xuống đất giữa hai gốc cây trong một khu rừng,
            Từ ngày lánh xa thế tục, Đức Phật chỉ có hai manh áo cà sa thay đổi trên người, một chiếc bình bát trên tay, và đi chân đất để khất thực. Ngài luôn dừng lại bên ngoài các khu đô thị hầu tránh xa các cảnh bon chen. Ngoài giáo lý mà Đức Phật đã để lại cho nhân loại, chính cuộc sống của Ngài cũng là một tấm gương cho chúng ta cùng soi. Một người tu tập chân chính có cảm thấy khiếp sợ - nếu không muốn nói là kinh hoàng - khi đọc những gì mà bài báo trên đây đưa ra hay không? Rồi đây, Lâm-tì-ni sẽ trở thành một nơi đô hội, một bãi chiến trường giữa những kẻ âm mưu, một nơi hội tụ của những kẻ thừa cơ nước đục... Ai sẽ thắng, và ai sẽ thua? Hàng nghìn khách sạn sẽ mọc lên, ngành du lịch tâm linh ở Lâm-tì-ni sẽ trở thành một kỹ nghệ béo bở. Thánh địa Lâm-tì-ni sẽ trở thành một "quyền lực mềm" của một quốc gia lãnh đạo nào hay một chủ nghĩa chính trị nào đây?
            Một vài tư liệu cho biết rằng vua A-dục bãi bỏ thuế khóa cho ngôi làng Lâm-tì-ni, trong khi đó một vài tư liệu khác thì lại cho rằng nhà vua này chỉ giảm thuế, dầu sao đi nữa thì đấy cũng không hề là một biện pháp trục lợi. Thật vậy chủ đích chính yếu của bốn ngôi chùa và trụ đá của vua A-dục là để biến Lâm-tì-ni thành một trong những nơi hành hương mang lại những xúc cảm tinh khiết cho những người tu hành chân chính hầu giúp họ đến gần với Đức Phật hơn. Vào thế kỷ thứ IV có một nhà sư Trung Quốc khác thường là Pháp Hiền, quyết tâm sang Ấn Độ để tu học. Ông khởi hành bằng đường bộ và rời Trường An năm 399, đi xuyên qua sa mạc Gobi, các vùng Tân Cương, Khotan, và sau đó là Afghanistan và Pakistan ngày nay... Ông đi ngang làng mạc và đô thị, nơi nào cũng theo Phật Giáo, dân chúng tổ chức các lễ hội thật vui và long trọng.
            Pháp Hiền đến lãnh thổ Ấn năm 402. Ông lưu lại trong vùng thung lũng sông Hằng để tu học và viếng các nơi thắng tích Phật Giáo. Sau đó ông quay lại các vùng Peshawar, Kaboul thuộc Afghanistan ngày nay để viếng thăm các vùng Phật Giáo này. Trước khi quay về Trung Quốc ông xuống miền nam nước Ấn và đến Tích Lan, nơi đây ông khám phá ra nhiều kinh sách chưa hề có ai ở Trung Quốc biết đến. Năm 413 ông rời Tích Lan bằng đường biển để trở về quê hương. Trên đường ông suýt chết vì ghe bị đắm. Ông ghé được vào đảo Java của Indonesia, và tại nơi này ông gặp nhiều người đồng hương sang đây tu học. Lúc đó đảo Java chưa có ngôi đền Borobudur, vì ngôi đền nổi tiếng này chỉ bắt đầu được xây dựng vào khoảng thế kỷ thứ VIII. Sau đó ông lại tìm ghe khác để trở về Trung Quốc. Trong chuyến trở về quê hương này có thêm bốn nhà sư khác tháp tùng, thế nhưng chỉ có mình ông là sống sót và về đến được Trường An vào năm 414. Ông để ra hai năm để viết quyển hồi ký mang tựa là "Phật Quốc Ký" thuật lại cuộc hành trình mười lăm năm của mình ở Ấn  Độ và Tích Lan. Vài năm sau đó thì ông qua đời.
            Hành hương và tu học là ý chí và lòng nhiệt tâm của một con người và đôi khi cũng là lý tưởng của cả một đời người. Sự thúc đẩy đó không cần đến sự hậu thuẫn của các diễn đàn, liên đoàn, ngân hàng, hay sự hậu thuẫn chính trị của các đảng phái hoặc một quốc gia nào cả, cũng không cần đến các tổ chức du lịch đan vào nhau như một mạng lưới ở khắp các quốc gia Phật Giáo. Chắc hẳn rồi đây chúng ta sẽ có thể đến viếng Lâm-tì-ni thật dễ dàng theo các tour du lịch rẻ tiền. Trong số những người hành hương tất sẽ có những người thật thà, dành dụm chắt chiu để cúng dường, hầu góp phần mang lại lợi nhuận cho những số vốn đầu tư hàng tỉ đô-la. Thế nhưng cũng có những người giàu có cúng dường để trấn an lương tâm mình. Dầu sao thì chúng ta cũng rất có thể sẽ đến Lâm-tì-ni bằng các tour du lịch với chương trình một hoặc hai tuần có người hướng dẫn chuyên nghiệp có thể nói được nhiều ngôn ngữ khác nhau, nhằm giúp chúng ta cầu xin được thêm một ít phước lành. Có mấy ai nhớ được là Đức Phật sinh ra dưới một gốc cây ở một nơi cách biệt với cung điện của vua cha, và sau này chỉ có một bình bát trên tay, thì làm thế nào ban phước lành và sự giàu có cho chúng ta được. Âu châu văn minh ngày nay cũng chẳng khá hơn, chẳng hạn như ở một nước rất sùng đạo, trong các vùng thôn quê, làng này đồn đại và rỉ tai là làng kia có xảy ra phép lạ nhờ đi hành hương và uống nước thánh. Bọn trục lợi quả thật khéo léo và tài tình, xe của các tour du lịch đầy ắp những người nông dân chất phác và những người lớn tuổi thật thà. Các nước có thánh địa tiếp rước hàng triệu du khách mỗi năm, mạng lưới du lịch tâm linh thật nhộn nhịp khắp Âu Châu và thế giới. Hình ảnh những người hành hương thành kính thường xuyên được đưa lên thật khéo léo trên truyền hình. Đấy vừa là "quyền lực mềm" vừa là một nguồn tài chính khổng lồ cho một số quốc gia Ấu Châu. Cái mô hình đó đang được xuất cảng sang Á Châu.
            Vào thế kỷ thứ VII, giữa thời kỳ vàng son của nền văn minh Trung Quốc và sự phát triển cao độ của Phật Giáo ở xứ sở này, người ta lại thấy có một nhà sư khác thường khác là Huyền Trang. Ông rời Trường An vào năm 629 sang Ấn hành hương và tu học. Ông đi ngang các vùng Tây Vực theo Phật Giáo mà nhà sư Pháp Hiền đã đi ngang trước đó hơn hai thế kỷ. Vào thời kỳ mà Huyền Trang đi ngang các vùng này thì nhiều nơi đã hoặc đang trở thành Hồi Giáo. Bởi vì tôn giáo này được hình thành ở nước Á Rập Saudi vào thế kỷ thứ VII đang phát triển rất nhanh trong toàn vùng Trung và Cận Đông. Nói chung thì những gì nhà sư Huyền Trang trông thấy đấy là những hiện tượng mà Phật Giáo gọi là vô thường.
            Huyền Trang quay về Trung Quốc mười sáu năm sau tức là vào năm 645. Ngoài số kinh sách mang về còn có một quyển nhật ký của ông mang tựa là " Đại Đường Tây Vực Ký" ghi chép những gì do chính ông tai nghe mắt thấy nơi xứ sở của Đức Phật và các nơi thắng tích trong thung lũng sông Hằng. Hai quyển sách "Phật Quốc Ký" và " Đại Đường Tây Vực Ký" trên đây là hai tài liệu vô giá về Phật Giáo trên đất Ấn và cả lịch sử của quốc gia này. Quyển "Phật Quốc Ký" của Pháp Hiền được dịch sang tiếng Pháp và tiếng Anh rất sớm từ hậu bán thế kỷ XIX.
            Một nhà khảo cổ người Đức là Alois-Anton Führer dựa vào quyển "Phật Quốc Ký" của Pháp Hiền đã tìm được vị trí của Lâm-tì-ni vào năm 1896. Một năm sau người ta tìm thấy trụ đá và sau đó là các lớp nền của bốn ngôi chùa do vua A-dục xây dựng. Khởi đầu Lâm-tì-ni là một khu vườn thanh tú dưới triều đại của vua Tịnh Phạn, sau đó đã trở thành một ngôi làng trù phú và một thắng tích thiêng liêng dưới triều đại của vua A-dục, và sau cùng là một vùng hoang sơ và nghèo nàn khi nhà khảo cổ Alois-Anton Führer đến đây.
            Vào thế kỷ XIV nhà vua Ripu Malla của xứ Nepal hành hương nơi này và đã cho ghi khắc thêm trên trụ đá của vua A-dục một câu đánh dấu cuộc viếng thăm của mình, và đấy cũng là dấu tích lịch sử cuối cùng của Lâm-tì-ni. Lý do của sự yên lặng hay quên lãng đó của Lâm-tì-ni cũng không phải là quá khó hiểu. Các đạo quân Hồi Giáo tràn vào đất Ấn vào thế kỷ XII đã sử dụng mọi phương tiện để tận diệt Phật Giáo và cả Ấn Giáo. Thế nhưng đối với Ấn Giáo thì hình như các đạo quân Hồi Giáo có phần nương tay hơn. Có thể là vì Ấn Giáo cũng là một tín ngưỡng tin vào Thánh Kinh và một Đấng Toàn Năng gần tương tự như Hồi Giáo? Một lý do khác là Ấn Giáo là một tín ngưỡng mang tính cách đại chúng, sự sinh hoạt ăn sâu vào gia đình và làng mạc, trong khi đó thì Phật Giáo có những tổ chức tập thể lộ liễu hơn, chẳng hạn như tăng đoàn của đại học Na-lan-đà gồm hơn mười ngàn nhà sư. Sau thế kỷ XIII có thể nói là Phật Giáo đã hoàn toàn biến mất ở Ấn Độ, trong khi đó thì Ấn Giao hồi phục nhanh hơn. Tóm lại Lâm-tì-ni chìm sâu trong sự quên lãng của lịch sử kể từ thế kỷ XV cho đến khi nhà khảo cổ người Đức tìm đến nơi này vào cuối thế kỷ XIX.
            Có một nhân vật trong lịch sử Phật Giáo ít người chú ý đến, thế nhưng lại là một trong những nhân vật có công lớn nhất và không thể nào chối cãi được, ấy là vịquốc sư Ưu-bà-cúc-đa dưới triều đại của vua A-dục. Ông không nổi danh như Long Thụ, Vô Trước, Bồ-đề Đạt-ma, Huệ Năng hay Đạo Nguyên... Thật vậy ông không phải là một luận sư hay triết gia và cũng không hề sáng lập ra một học phái nào cả, thế nhưng chính ông là người đã giúp vua A-dục đến gần với Phật Giáo, đã khuyên vua A-dục xây cất hàng chục ngàn bảo tháp để phân tán xá lợi ra khắp mọi nơi trong đế quốc của mình giúp người dân đến gần với Đạo Pháp và Đức Phật hơn. Thật vậy các phương tiện di chuyển của hơn hai ngàn năm trước có phải như ngày nay đâu. Ưu-bà-cúc-đa cũng là người chủ xướng việc kết tập Đạo Pháp lần thứ ba và cũng đã chủ tọa đại hội này để thanh lọc những gì thêm thắt và dị đoan trong một giai đoạn phát triển hỗn tạp và quá nhanh của Phật Giáo, nhờ vào sự ưu đãi của hoàng triều A-dục. Chinh là nhờ vào lần kết tập này, Luật Tạng và Kinh Tạng được hình thành thật tinh khiết và được truyền bá đi khắp nơi. Nếu Ưu-bà-cúc-đa đã đứng bên cạnh vua A-dục khi nhà vua này ra lệnh xây dựng bốn ngôi chùa và trụ đá ở Lâm-tì-ni, thì ông cũng đã đứng sau lưng vị vua này trong các chương trình hoằng Pháp xa hơn thung lũng sông Hằng và bên ngoài biên giới của đế quốc Maurya. Sự âm thầm và khiêm tốn đó của một nhà sư chân chính thật hết sức tương phản với các âm mưu và những sự khuấy động của các nhân vật như Pushpa Kamal Dahal, Kenzo Tange, Xiao Wunan, Kwaak Young Hoon, Karan Singh, Jayadeva Ranade... và cả đám trục lợi cá mè một lứa, do ký giả Frédéric Robin nêu lên trong bài báo trên. "Vinh dự" duy nhất mà Ưu-bà-cúc-đa có lẽ cũng không mong muốn và cũng không hề chờ đợi, là sau này người ta xếp ông với ít nhiều gượng ép, đứng vào hàng thứ năm trong danh sách các vị tổ của Thiền Tông.
            Cách nay ít lâu người dịch có viết một bài ngắn về "Câu chuyện một con đường", thuật lại cuộc hành trình của một người tu tập. Trên con đường đó có những người đi ngược chiều mà người tu tập phải tránh ra để không đâm sầm vào họ. Hai bên vệ đường diễn ra những cảnh cướp giật, đâm chém, bom nổ, nhà cháy, cầu sập, có những sòng bài, nhà hát tấp nập và cả những hố sâu, vực thẳm... Chúng ta không nên dừng lại để tham gia vào những thứ ấy, cũng không nên kéo nhau ra hai bên vệ đường để tả xung hữu đột. Nói thế không có nghĩa Phật Giáo là một tín ngưỡng chủ trương phải bịt tai, bịt mắt và bịt miệng tương tự như hình ảnh của ba con khỉ. Bước vào con đường tức đã là một một sự dấn thân rồi, thế nhưng sự dấn thân ấy không hề bắt buộc chúng ta phải mù quáng, trái lại chúng ta phải nhìn thấy những gì đang xảy ra ở hai bên vệ đường hầu giúp chúng ta ý thức được là mình phải nhanh chân và bước những bước vững chắc hơn. Và đấy cũng chính là mục đích của bài chuyển ngữ bé nhỏ này.
                                                                        Bures-Sur-Yvette, 26.09.13
                                                                         Hoang Phong chuyển ngữ

Thứ Tư, 9 tháng 10, 2013

Sếp tui tự cải đạo? (Oct 2013)

Sếp cũ quay lại, tiếp tục “đè đầu cưỡi cổ” mình. Đang nhậu với nhau, cũng không nhớ tại làm sao mà tự dưng quay qua nói chuyện tôn giáo. Sếp bảo tao giờ theo Công giáo. Trước đây tao không tin vào tôn giáo, chỉ tin bản thân. Gần đây, tao tự hỏi những cái tao theo đuổi, những niềm vui nỗi buồn nó có ý nghĩa gì? Tao thấy không có ý nghĩa gì lớn lao cả, nhưng Công giáo cho tao câu trả lời. Thêm nữa, bố mẹ tao theo Phật giáo nhưng Phật giáo bên HQ thì họ cứ ở trên núi, ít có cơ hội tiếp xúc. Tin lành thì quá hung hăng, chai mặt, không ưa nổi. Còn Công giáo thì khiêm tốn hơn. Vợ tao lại theo Công giáo, thế nên tao cũng bị ảnh hưởng.
Ặc. Người ngày xưa cứ hay tự đắc “I believe only in myself” bây giờ thành ra thế này đây. Cũng không sao. Marx đã nói tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân mà (phải mở ngoặc là rất có thể ông Marx chỉ nói đến tôn giáo độc thần bên châu Âu hồi đó thôi). Ai thấy được an ủi trong Thiên chúa thì để họ được an ủi. Chỉ có điều mình cảm thấy cái ông sếp này ngày xưa chỉ nói “I believe only in myself” một cách rỗng tuyếch.

Trận chiến vịnh Lepanto và phép lạ của chuỗi mân côi (Oct 2013)

http://en.wikipedia.org/wiki/Battle_of_Lepanto_(1571)


Chuyện này nghe ở nhà thờ Ba Chuông hôm rồi. Không nhớ linh mục xứ Nghệ đọc bài gì trong kinh thánh, nhưng ông giảng về cuộc chiến vịnh Lepanto và khuyên giáo dân lần hạt mân côi cầu nguyện với Mary. 

Nghe ổng giảng thì thấy hay quá, ngày xưa phe Thiên chúa châu Âu uýnh nhau với đế quốc Hồi giáo Ottoman, khi quân Hồi giáo quá mạnh sắp tràn đến nuốt chửng châu Âu thì phe Thiên chúa giáo châu Âu hợp lại và lạ thay, may thay, đánh bại quân Hồi giáo trong một trận hải chiến ngắn ngủi. Hóa ra, nhờ hồng phúc Thiên chúa, cụ thể là nhờ ông Pius V là giáo hoàng khi đó đã cầu nguyện mẹ Mary xin với Thiên chúa nên phe Thiên chúa giáo châu Âu đã chiến thắng vẻ vang. Giáo dân nghe xong tin xái cổ. Được thể linh mục kể luôn chuyện Trại Gáo, Mỹ Yên, nhắc rằng chính quyền CS này luôn luôn bách hại giáo hội nhưng nếu giáo dân noi gương Pius mà cầu nguyện thì sẽ chiến thắng. Ai không thấy thì tin!!! Haha.

Đọc lại lịch sử thì thấy trận chiến vịnh Lepanto đúng là chóng vánh, nhưng quân Thiên chúa giáo đâu có yếu quá so với quân Hồi giáo như ông linh mục nói mà thật ra cũng một chín một mười so với quân Hồi giáo; quân Thiên chúa giáo lại có ưu thế vượt trội gấp gần 3 lần về vũ khí là súng (1815 khẩu của phe Thiên chúa giáo so với 741 khẩu của phe Hồi giáo). Đánh nhau mà hơn nó cái vũ khí là thắng rồi chứ có gì là lạ đâu. Đúng là bá láp!

Ông nhà giàu và ông Lazarus (Sep 2013)

Chuyện này được giảng ở nhà thờ Bến Hải vào chủ nhật tuần rồi. Ai không nhớ thì xem Phúc âm của Luke (16:19-31). Nhà thờ giảng câu chuyện này như nhắc mọi người phải làm phúc cho người nghèo để tạo phúc cho mình ở đời sau, nếu không thì sẽ bị trừng phạt trong hỏa ngục. Thế thì cũng chả khác gì lắm so với ý tưởng về nghiệp trong đạo Phật (trừ việc PG không rủa người ta bị tra tấn tàn bạo đến muôn đời). Cái khó nghe đối với người không tin như mình là ở đoạn đối đáp giữa ông nhà giàu và Abraham. Ông nhà giàu khi còn sống tuy không làm việc tốt cho Lazarus là kẻ nghèo khổ cùng cực, nhưng khi đã nếm hỏa ngục rồi thì biết sợ và liền nhờ Abraham cho người đến để khuyên bảo các anh em còn sống của ông ta để họ ăn ở sao cho khỏi bị như ổng. Như vậy thì ông nhà giàu này cũng còn biết hối lỗi, biết sợ, lại lo lắng cho những anh em của mình. Thế nhưng Abraham lại bảo là khuyên bảo vô ích, vì bọn này không chịu nghe lời Moses và mấy ông tiên tri khác thì chắc cũng chả nghe người chết sống lại làm chứng. 


Đoạn này nói lên cái gì? Rằng con người đã xấu thì không cải tạo được, vậy thì ném béng chúng nó vào hỏa ngục ngay từ khi còn sống, chứ sao lại để cho chúng sống phè phỡn rồi khi chết mới hành hạ chúng? Rằng Thiên Chúa đã biết đứa nào xấu, đứa nào tốt, nên Thiên Chúa cũng chả cần nhọc công cải tạo con người? Vậy sao lại có chuyện ông Paul tông đồ, trước chuyên đi lùng bắt người theo Jesus để tra tấn, sau lại trở thành nhà truyền giáo? Và chẳng phải ông nhà giàu kia đã biết sợ rồi thì cũng có nghĩa ông ta có thể cải tạo được chứ gì nữa? Ông nhà giàu có phải là kẻ xấu toàn diện không khi thật ra ổng cũng có lòng lo lắng cho anh em của mình? Phải chăngThiên Chúa không có khả năng cải tạo kẻ xấu, chỉ đợi chúng chết để ném vào hỏa ngục? 

Hãy để ý một chút về lý luận của ông nhà giàu và Abraham. Ông nhà giàu cho rằng mấy người anh em của ông tuy không nghe lời Moses và những tiên tri khác, nhưng chắc sẽ nghe lời chứng của kẻ đã chết nay sống lại, và nhờ đó ăn năn hối cải mà sống tốt. Không có gì sai trong lý luận này. Moses và nhiều tiên tri khác có thể hù dọa người Do Thái về chuyện này chuyện nọ, nhưng đâu có đưa ra bằng chứng về sự thưởng phạt của Thiên Chúa. Talk is cheap mà. Có nhân chứng chẳng phải hay hơn sao. Ấy vậy nhưng Abraham vẫn từ chối, bảo rằng nếu không tin Moses thì hết thuốc cứu rồi. Abraham cho rằng lời dạy của tiên tri là đủ, bằng chứng hay nhân chứng không có giá trị bằng. Cách lý luận này của Abraham đâu khác gì câu nói “phúc cho ai không thấy mà tin” của Jesus. (Ngạc nhiên thay, người ta còn kể rằng Thiên chúa cha đã quyết định rằng, đám người tội lỗi kia  không nghe Moses thì ta sẽ cho con ta chết và để nó sống lại, ai tin vào nó thì sẽ được sống muôn đời, ai không tin thì sẽ như ông nhà giàu kia, bị tra tấn muôn đời. Vậy là rốt cuộc Chúa lại bảo thôi thì cứ cho người chết sống lại làm chứng cho rồi. Khó hiểu quá Chúa ơi, tầng tầng lớp lớp các ý tưởng trái ngược nhau, trong cùng một câu chuyện, trong cùng một nhân vật, khiến tôi không biết ý Chúa là thế nào nữa). 

Câu chuyện nặng tính hù dọa, không tính khoan dung này thật chẳng đáng để nhớ. Giá trị cứu rỗi của câu chuyện đã bị tính chất bố láo của giáo điều Thiên chúa giáo làm hỏng. Chúa lòng lành nếu có thật thì làm ơn bịt miệng những kẻ huyênh hoang mỗi tuần ở nhà thờ rao giảng tầm bậy cho cả ngàn con người, nhất là trẻ em ngây thơ, và ném những kẻ lếu láo đó xuống hỏa ngục cho trần gian được trong lành.

Dr. Jekyll & Mr. Hyde! (Sep 2013)

Chúa trời nhân hậu. Đấy là thông điệp hôm nay cha xứ nhà thờ đức bà nhắc lại cho giáo dân nhớ tại sao mình đi nhà thờ. Vì chúa nhân hậu nên ta đến nhà thờ vào chủ nhật để tỏ lòng ngưỡng mộ, biết ơn. 

Cha xứ quên, hay cố tình không nhắc đến những tai họa do chúa gây ra cho con người, mà tiếng Anh họ dùng chữ “Acts of God” (Việt Nam thì gọi là thiên tai chứ không gọi Ngọc Hoàng tai, nhưng phương tây họ nói thẳng tên thủ phạm chứ có dùng chữ Acts of Sky đâu, haha), rồi những sự trả thù khủng khiếp khi mấy sắc dân Trung Đông không thờ cúng ổng, những lần ổng giúp cho dân Do Thái hủy diệt các thành phố và dân tộc trong vùng để chiếm đất và của cải, v.v.

Nhắc những chuyện ghê gớm này cũng có vẻ nhàm, mà nhiều nơi họ cũng nói rồi. Điều khác biệt ở đây mà ta phải rút ra đó là chúa trời có những đặc tính, những hành động thật trái ngược, lúc thế này, lúc thế khác, tiền hậu bất nhất, có lúc rất cực đoan, có lúc thì lại ra vẻ khoan hòa. Thường thì phải có trắng mới biết đen, phải có đêm mới biết ngày, phải có người giàu kẻ nghèo mới phân biệt giai cấp. Ta cần thấy một chúa trời nhân hậu đối lập với con người hay ác quỷ ích kỷ dữ dằn, thì mới biết chúa nhân hậu chứ. Đằng này một chúa trời vừa nhân hậu, lại vừa ác độc thì là thế nào? Tại sao các đặc tính khác nhau, trái ngược nhau, lại cùng ở trong một nhân vật như vậy? Phải chăng chính vì vậy nên mấy ông thần học mới rút ra kết luận chúa là đấng không thể hiểu được. Lại có ông bảo chúa trời không có đặc tính (no attribute). Mà đã vậy, thì nếu các tín đồ không muốn thừa nhận chúa độc ác, thì cũng không nên nhận chúa là đấng nhân hậu làm gì. Tốt nhất cho đấy là một đấng “tâm thần phân liệt” (bipolar disorder), hay là một kiểu “Dr. Jekyll và Mr. Hyde” chăng?

Joachim - bố của Mary (Sep 2013)



Vừa rồi đi nhà thờ Bến Hải, gặp lễ dành cho thiếu nhi. Cha xứ giảng các bé thiếu nhi và người lớn nghe rằng ông Joachim (đọc là Doa Kim nhé) - bố của Mary, ông nội của Jesus - là người đức độ. Đành phải về lục wiki xem ông này là người thế nào. Hóa ra, kinh thánh chính thức chẳng hề đề cập đến ông Joachim này. Thế thì ổng ở đâu ra? Ổng được nói đến trong phúc âm của James, mà cuốn này thì không được Giáo hội thừa nhận, cho rằng là tài liệu ngụy tạo. Lạ hơn nữa là cách truyền thống TCG nhào nặn ông này. Đọc thử nhé:


Vì phả hệ của Jesus trong phúc âm của Matthew và Luke không nêu rõ tên bố mẹ của Mary, nhưng lại nêu 2 tên khác nhau đối với bố của Joseph, nên nhiều học giả (hay giả học?) như thánh John Damascus hồi thế kỷ thứ 8 và đặc biệt là các học giả của phe Tin Lành lý luận rằng phả hệ nêu trong phúc âm của Luke thực ra là phả hệ của Mary, và rằng Heli chính là bố của Mary. Nhằm giải quyết vấn đề ông Joseph có hai bố, một có nguồn gốc từ Solomon, còn một có nguồn gốc từ Nathan, con trai của David, nên truyền thống TCG kể từ thế kỷ thứ 7 đã quy định rằng Heli là anh em trai đầu tiên của Joachim. 
Cũng theo truyền thống, thánh Anne sinh ra ở Bethlehem và lấy ông Joachim ở Nazareth, cả hai đều có nguồn gốc từ David. Trong phúc âm của James, Joachim được tả là một người giàu có, ngoan đạo, thường xuyên làm từ thiện cho người nghèo và cúng dường cho đền thờ tại thành Sepphoris. Cũng theo truyền thống, người ta cho rằng cha mẹ của Mary trước tiên thì sống ở vùng Galilee, sau đó đến Jerusalem định cư. Tuy nhiên, một vị tu sĩ đã từ chối Joachim và đồ cúng của ông này, vì cho rằng vợ của Joachim không sinh được con chính là dấu hiệu các thần linh không hài lòng. Joachim sau đó đi ra xa mạc, ở đó ông ta nhịn ăn và sám hối trong 40 ngày (hy vọng chỉ là ăn ít thôi, chứ tuyệt thực thì chết rồi). Các vị thần xuất hiện trước cả Joachim và Anne, hứa sẽ cho họ một đứa con. Joachim sau đó quay lại Jerusalem và ôm lấy Anne ngay tại cổng thành. Thời xưa, người ta tin rằng nếu đứa trẻ do một người phụ nữ đã quá tuổi sinh ra khi đã từ bỏ hy vọng có con cái thì mai đây sẽ làm những chuyện vĩ đại. chuyện tương tự cũng xảy ra như trong Cựu ước, trường hợp bà Hannah, mẹ của Samuel. 

Câu chuyện huyền thoại liên quan đến ông Joachim và bà Anne được nói đến trong sách Huyền thoại vàng (Golden Legend), và là chủ đề khá phổ biến trong nghệ thuật TCG, cho đến khi Công đồng Trent hạn chế việc mô tả những sự kiện được cho là ngụy tạo, đáng ngờ.

Theo lịch kỷ niệm các thánh trước đây (Tridentine Calendar), thì không có ngày kỷ niệm cho thánh Joachim. Sau này, ngày kỷ niệm này được bổ sung vào lịch chung Roman (General Roman Calendar) vào năm 1584, lấy ngày 20 tháng 3, 1 ngày sau ngày ăn mừng thánh Joseph. Đến năm 1738, ngày kỷ niệm này lại được chuyển đến ngày chủ nhật đầu tiên sau 8 ngày từ ngày kỷ niệm Mary lên trời. Mong muốn cho ngày chủ nhật này được mọi người hưởng ứng, Giáo hoàng Pius X đã lại chuyển nó vào ngày 16 tháng 8, ngay sau ngày Mary lên trời, như thế để Joachim được tưởng nhớ cùng với sự vinh hiển của Mary.” 

Chà, thì ra ông Joachim này chỉ được nói đến trong phúc âm James, vốn Giáo hội không thừa nhận do có nhiều dấu hiệu cho thấy là hàng giả. Vậy thì tại sao họ lại vẫn cứ kỷ niệm, ăn mừng, dạy con nít về ông này như một chuyện có thật? chắc Giáo hội sẽ bảo phúc âm James có chuyện ngụy tạo, nhưng cũng có chuyện đáng tin như chuyện về Joachim. Tại sao đáng tin thì chịu, cả hai ngàn năm rồi, ai biết đấy là đâu. 

Còn như ông John thành Damascus lý luận thì dành cây phả hệ trong phúc âm của Luke cho Mary, thì hóa ra ông Luke viết sai à? Mà không lẽ đem dòng họ bên mẹ, ghi cho bên bố, sai gì mà sai cơ bản thế không biết! Mà khổ ghê, ông Luke không sai thì ông Matthew viết sai, vì 2 ông viết không giống nhau mà.