Trang

Thứ Tư, 25 tháng 12, 2013

NOEL 2013

Noel năm nay ở Tân Sa Châu không có gì lạ, ngoài ông thầy sáu nói chuyện khoa học, hỏi mấy em nhỏ về số lượng nhiễm sắc thể của con người. Thầy còn phán rằng phôi thai con người cũng là người, nên chúng ta phải phản đối mọi hình thức hủy hoại thai nhi. Đồng ý với thầy sáu, nhưng thầy chưa nói đến chuyện thai nhi bị dị tật bẩm sinh nan y thì thế nào. Dù sao thì ở điểm này có lẽ còn một chuyện mà ý niệm của giáo hội còn chưa rõ: thai nhi có linh hồn hay chưa? khi mẹ bé đẻ bé ra thì ngay lúc đó Chúa trời thổi vào mặt nó một cái cho nó có linh hồn? nếu thế thì thai nhi chưa có linh hồn, nên có thể gọi là người không? Hay Chúa đợi lúc bố mẹ chúng làm chuyện "ấy" thì rình lúc người ta lên "đỉnh" mà thổi linh hồn vào? trường hợp đó thì thầy sáu nói đúng. So, you'd better watch out that God is watching you making love!

Quay sang chuyện khác. Có người cho rằng giáo dân có cái hay, đó là sống quy củ, có tính cộng đồng. Spot on! Khi họ đến nhà thờ dự lễ, cái cảm giác thuộc về một cộng đồng sẽ đưa đến cảm giác an toàn, cảm thấy mạnh mẽ hơn khi thuộc về một cộng đồng lớn hơn bản thân mình. Từ bỏ đức tin là từ bỏ cộng đồng, từ bỏ sức mạnh vay mượn, điều này chỉ ít người dũng cảm làm được.

Vậy thì xã hội không giáo hội có cái gì để có thể thế chỗ giáo hội được không? Có một vài mô hình, kiểu như quân đội. Nhiều người nhận xét môi trường quân đội khiến con em họ trưởng thành, kỷ luật, quy củ hơn. Đó là một môi trường lớn. Còn nhiều những môi trường khác nhỏ hơn như những hội, đoàn, nhưng về mức độ nghiêm khắc và kỷ luật thì không sánh bằng. Thế mới biết kỷ luật cũng thật quan trọng đối với sự phát triển và cách sống của con người. Thế nhưng, mình tin rằng không gì sánh bằng con người tự nhận thức được bản thân, được chân lý khoa học, tránh niềm tin vào những điều không có thật để bị những kẻ xấu dẫn dụ. Còn kỷ luật trong một môi trường độc tài niềm tin thì mãi mãi không bao giờ giải phóng và làm con người mạnh mẽ lên, vì nếu có chỉ là ảo tưởng mà thôi.




Thứ Năm, 19 tháng 12, 2013

Cháo gà cho con nít

Chủ nhật, ngày 15/12, Ba Chuông

Nói thật là không nhớ linh mục đọc phúc âm gì. Hình như là chuyện John Baptist mặc kiểu tiền sử, ăn kiểu thiền sư, được Jesus khen là ông này công chính lắm đó, chưa có ai bằng ổng, thế nhưng kẻ hèn kém nhất trong nước trời cũng còn hơn ổng. Có ai trong giáo dân ngồi nghe hiểu thế là gì không? là John Baptist không có chân trong nước trời. Tiêu chuẩn của nước trời cao như vậy đó, liệu cả tỷ tín đồ có hy vọng gì không? Câu trả lời chắc là không rồi. Jesus chỉ cho thằng ăn trộm chết cùng lúc cùng nơi với Jesus được lên thiên đàng thôi.


Mỗi buổi lễ, linh mục sẽ đọc một bài phúc âm rồi giảng giải về kinh thánh, về áp dụng trong cuộc sống, v.v. Hôm nay, sau bài phúc âm về John Baptist, linh mục lại kể tiếp một câu chuyện đọc trong nhan nhản những sách "chicken soup for the soul", chuyện một chú bé vào cửa hàng bán chó cưng, xin mua một con chó què, chủ tiệp thương tình bảo đành rằng con chó què thì rẻ tiền, nhưng què rồi thì làm sao chơi với con được, chú bé liền kéo ống quần lên, hóa ra chú cũng bị tật ở chân. Câu chuyện này khá dễ thương, đọc qua thì rất xúc động. Vậy nó có ý nghĩa gì với chúng ta? Tôi cũng đang tự hỏi vì một số ẩn ý có vẻ chưa rõ. Liệu chú bé có để ý đến con chó nếu chú không bị tật ở chân không? Chú bé với cái chân bị tật và con chó cũng bị tật ở chân chơi với nhau thì sẽ gây xúc động, thương cảm hơn là chú bé chơi với con chó bình thường chăng? Chú bé thích một con chó cũng bị tật như mình để cảm giác đỡ cô đơn hơn chăng? Nghĩ sao thì tùy, nhưng cái mình nhận ra là hình như chả có quan hệ gì giữa ông John Baptist và món cháo gà này cả. Không lẽ phúc âm không có nhiều giá trị "inspirational" nên linh mục cũng chả biết giảng giải gì, mà phải mượn "cháo gà" cho giáo dân ăn? Mấy món "cháo gà cho linh hồn" đọc thì rất xúc động, nhưng nhiều chuyện có vẻ kịch quá, đẹp quá, đúng kiểu "ở hiền gặp lành" sao sao đó. Mà các linh mục cũng lười ghê, giảng phúc âm là nghề kiếm cơm của mấy ổng mà không làm, lại đi mua sách "chicken soup" về ngâm cứu rồi làm giáo án. Hay họ cũng thấy cháo gà dễ nuốt hơn lời Chúa?

Thứ Năm, 12 tháng 12, 2013

Nhân chi sơ, tính bản thiện

Chủ nhật, ngày 8/12/2013, nhà thờ 3 chuông

Chủ tế bắt đầu bằng cách nói đến Nelson Mandela, khi Nam Phi đang chuẩn bị lễ tang cho ông. Nelson Mandela có nói thế này "người ta qua học hỏi mà biết ghét nhau, thì cũng có thể qua học hỏi mà biết yêu thương nhau". Quá đúng. Rồi chủ tế bắt đầu lảm nhảm nghe rất thê lương. Thấy ông này còn trẻ mà điệu gớm, nếu mình phải tranh cãi với ổng chắc xin đầu hàng luôn vì nghe ổng nói như ca cải lương. Quá buồn khi nghe ổng nói ai sinh ra cũng có tính thiện. Sao ổng không nói luôn là ai sinh ra cũng có máu chống lại Chúa nên nhà thờ yêu cầu giáo dân đem trẻ sơ sinh đến để tra xứ gội đầu.

Bài giảng hôm đó là trích sách Isaiah về thế giới tương lai khi Chúa đã ngự đến, nơi cừu ăn chung với sói, sư tử ăn như bò. Thế giới hoang đường, giấc mơ viển vông. Sự thật là thế giới này được tạo ra với các sinh vật ăn lẫn nhau, con người thì đánh lẫn nhau, nhưng các sinh vật cũng vẫn sống chung với nhau và con người cũng vẫn hợp tác với nhau. Sói mà ăn chung với cừu thì là gì? Sói ăn cỏ hay cừu ăn thịt đây? Nhưng dù sao thì cũng không nên bắt bẻ kinh thánh quá đáng, vì lời của Isaiah chỉ là giấc mơ về thế giới hòa bình mà thôi. Đáng tiếc là nếu con người không tự đối thoại, hợp tác, tôn trọng nhau, mà đợi Chúa đến để Chúa giải quyết thì giấc mơ đó chả bao giờ là hiện thực. Tại sao con người có tính thiện, có khả năng nhìn nhận vấn đề và đề ra cách giải quyết nó mà lại không làm được, cứ phải chờ Chúa để làm gì?

Thứ Tư, 4 tháng 12, 2013

How to understand Israel in 60 days or less



Sarah Glidden bằng tuổi mình, và thật đáng ngưỡng mộ. Cô có tài vẽ, cô vẽ truyện tranh kể lại những điều có thật, chứ không phải truyện kiểu thám tử Conan hay Doraemon. Truyện "Làm sao để hiểu Israel trong chưa đầy 60 ngày" thật cuốn hút. Sarah Glidden tham gia một chuyến đi, có thể nói là đi hành hương về quê cha đất tổ là Israel, nhưng cô ở Mỹ và có bạn trai là một anh Pakistan nên cô có nhiều hướng tiếp cận thông tin, không bị tình cảm dân tộc làm mù quáng và cô có cảm tình nhiều đối với người Arab, vì vậy chuyến đi thật sự là một trải nghiệm lạ lùng, khi cô được giải thích về cách nhìn của người Israel, về lịch sử khu vực, v.v.

Sarah đã ghi lại hết sức chân thành về chuyến đi, nhiều vấn đề chỉ được nêu lên một cách sơ khởi, nhưng với rất nhiều câu hỏi, gợi ra nhiều hướng trả lời khác nhau. Thật tuyệt vời khi con người có tinh thần cởi mở với những cái mới, cái khác (open mind), và cũng đồng thời có cái nhìn sắc sảo, đánh giá chính xác sự vật hiện tượng (critical thinking). Hy vọng mình cũng sẽ cải thiện được bản thân theo hướng đó.

Thích nhất đoạn gần cuối, khi Sarah và Melissa đến dự buổi nói chuyện của một rabbi. Một số ý tưởng hết sức phóng khoáng, nhân văn trong bài giảng của vị rabbi thật đáng suy ngẫm.

http://www.amazon.com/How-Understand-Israel-Days-Less/dp/140122234X 


Thứ Hai, 2 tháng 12, 2013

Các con hãy tỉnh thức

Chủ nhật, ngày 1 tháng 12.
Tuần trước là một ngày chán chết, và tâm trạng không vui nên đi lễ xong quên tiệt linh mục giảng cái gì. Thật sự không đọng một tý gì trong đầu, mà dạo này đúng là đầu óc có vấn đề, đi hay nhầm đường, chỗ cần quẹo thì không quẹo, chỗ cần đi thẳng thì quẹo.
Tuần này, linh mục nhà thờ Ba chuông giảng cho các em bé về chuyện Jesus nói mọi người phải coi chừng ông ta trở lại, vì ông ta sẽ quay lại bất thình lình, như một tên trộm, bấy giờ ai chuẩn bị sẵn sàng thì ổng rước lên trời, ai không thì "go to hell", chắc là vậy. Chuyện Jesus tự ví mình như tên trộm thật buồn cười, nhưng thôi kệ, Bác Hồ còn làm thơ rất tếu trong "Nhật Ký Trong Tù" nữa cơ mà.
Giả sử Jesus có quay lại thật, thì ông ta cứ việc quay lại, và cho mọi người biết thời gian chính xác sẽ quay lại và giữ đúng lời hứa đó, chứ việc gì lại hứa một cách tào lao như vậy? What for? Câu giải thích là để cho mọi người phải lo liệu sao cho không bị trễ tàu do Jesus lái, thì mọi người phải sống tốt, phải nghe lời giáo hội, phải tin vào Jesus, v.v. Không thể phủ nhận được hàm ý tốt trong chuyện này là để mọi người sống tốt, nhưng cái mục đích là để chuẩn bị cho ngày tận thế thì thật hão huyền. Jesus đã hứa rằng khi các đồ đệ của ông còn sống thì ông sẽ quay trở lại, thử hỏi còn ông đồ đệ nào còn đến nay không?
Nhiều người cứ cố bám víu vào những ý tốt của hội thánh, nhưng nó chỉ đảm bảo một hoặc hai vế "thiện, mỹ", còn cái gốc "chân" thì chỉ có niềm tin. Khi cái "chân" không có, thì những tính chất "thiện, mỹ" cũng chỉ là hư ảo, thường còn bị lợi dụng cho những mục đích thâm sâu của những tổ chức, cá nhân đứng đằng sau. Mà tại sao mọi người lại cứ phải nhờ vả vào những cái hư ảo đó nhỉ? Hầu hết mọi người ai chẳng có tính thiện trong người, tại sao lại cứ đâm đầu vào nhà thờ vì tính chất thiện mà không chân của nó?

Thứ Hai, 18 tháng 11, 2013

Chết vì theo đạo?

Chủ nhật 17 tháng 11, 3 chuông.

Hôm nay, họ mừng ngày 117 người Việt Nam được John Paul II phong thánh. Đây là những người theo đạo thiên chúa vào thời nhà Nguyễn, trước khi Pháp kiểm soát được Việt Nam. Nhà Nguyễn sợ những người này theo đạo và thực dân Pháp rồi phản lại chế độ, nên ép người ta bỏ đạo. Có lẽ cũng kha khá người bỏ, 1 số người thì không chịu và bị xử tử. Có lẽ con số người bị xử tử lớn hơn, nhưng được Vatican làm thủ tục cho thì chỉ được 117 người. Có lẽ cũng nên hạn chế chứ 117 là đã quá nhiều. Trên thực tế đâu phải ai chết vì đạo cũng được Vatican phong thánh.
ALT
Nói gì thì nói, chuyện dùng bạo lực đàn áp là chuyện không nên có. Chuyện tinh thần, đạo đức, đức tin, cần phải được giáo dục, chứ dùng cái dao kề cổ người ta mà ép thì chả ra gì, vì ai cũng có tinh thần tự do trong lòng. Khi xưa, nhà cầm quyền khi hoảng lên trước hiểm họa ngoại xâm, đã thi hành chính sách ấy, chứ luật pháp phân minh thì cứ chứng minh người ta có hành vi làm phản rồi xử tử, chứ xử tử chỉ vì theo đạo là chuyện làm mất lòng dân. Dù sao đi nữa, trong số 117 vị kia, chắc cũng không tránh khỏi có kẻ thực sự có lòng phản trắc, có hành vi gián điệp cho ngoại bang. Buồn cười (hay muốn khóc) khi đến cuối lễ được nghe thấy linh mục nói thế này "các con thiếu nhi ngày nay không được có CƠ HỘI làm thánh tử đạo". Pure bullshit!

Quay lại chuyện không phải ai chết cũng được phong thánh, thì đó chính là do nhà thờ nói có đến hơn 100.000 người chết vì đạo vào thời Nguyễn. Lạ thật, không hiểu 117 vị kia có gì hơn số đông còn lại mà được tưởng niệm nếu họ cũng đều chết vì đạo? Cái chữ "chết vì đạo" này khó hiểu thật. Hay là những người còn lại thì chết vì bị đạo giết? Hay thời xưa chưa có vụ CMND, nên có khi chết mà không kịp ghi tên lại? Sorry, đùa chút thôi. Tuy nhiên, mới đây trên BBC có bài "Are there really 100,000 new Christian martyrs every year?" đọc mới thấy buồn cười. Vatican mới đây tính toán sao đó nói rằng mỗi năm có 100.000 người chết vì đức tin vào thiên chúa. Mấy ông nhà báo BBC cắc cớ đi tìm hiểu nguồn số liệu thì thấy là do một tổ chức ở Mỹ nó tính trong thời gian từ 2000 đến 2010 có khoảng 1 triệu người chết vì đức tin thiên chúa, chia cho 10 thì ra mỗi năm có 100.000 người chết như vậy. Nhưng con số 1 triệu này hóa ra chủ yếu là do cuộc xung đột ở nước Congo, mà nước này có thể nói là hầu hết đều theo thiên chúa, và họ đánh lẫn nhau (nội chiến). Đâu như có khoảng hơn 4 triệu người chết (kinh khủng) vì cuộc chiến này, và chả biết cái tổ chức kia tính sao đó bảo là 1 phần 4 trong số đó đủ tiêu chuẩn để tính là chết vì đạo. Bây giờ bạn thử hình dung hai người thiên chúa giáo đánh nhau và 1 anh chết; Vatican cộng vào sổ nam tào: hôm nay có một người chết vì theo đạo! Hèn chi lắm thế. Sao không có số liệu nào về "giết người vì đạo" cho nó cân. Nói thêm là trước đó họ cũng tính số người chết vì đạo trong cuộc chiến ở Rwanda. Một lần nữa, đây lại là nước mà dân theo đạo thiên chúa (bị bọn thực dân châu Âu nhồi sọ cho), và số người chết cũng kinh khủng.
(http://www.bbc.co.uk/news/magazine-24864587)

Tất nhiên, ở nhiều nơi trên thế giới này, người ta vẫn giết nhau vì ghét đạo của nhau. Người thiên chúa giáo bị giết vì đạo là có thật, và cũng không ít, nhưng dùng truyền thông để phóng đại, để ra vẻ mình là nạn nhân thì là thiếu công tâm. Công giáo mà không công tâm. Ở Trung Đông, quân Hồi giáo cực đoan cũng đang tuyên truyền rằng quân đội Mỹ là bọn thiên chúa giáo đang giết người Hồi Giáo, thì chuyện đó cũng không xa sự thực lắm đâu. Dở hơi nhất là chuyện thực ra thì mấy cái đạo này đều chung một gốc (ông Mohammed sáng lập đạo Hồi cũng lấy căn bản kinh cựu ước đấy, và người Hồi giáo thì coi Jesus là một nhà tiên tri như Mohammed; Công giáo và Tin lành thì còn gần nhau hơn nữa).


Thứ Hai, 11 tháng 11, 2013

Sự sống sau cái chết

Có lần ở đâu đó, mình đã viết một chút về sự so sánh giữa đạo Phật và đạo chúa. cái này nhiều người đã viết rồi, nhưng không có gì ngăn mình tự có một vài suy nghĩ riêng, kể cả khi suy nghĩ này trùng với ý tưởng của ai đó.
Nói chung, cuộc đời và thế giới này có cách vận hành của nó, có những tính chất và quy luật nhất định. Phật cho rằng con người phải biết các quy luật tự nhiên và sống hòa thuận với tự nhiên. Ai sống trái đạo, thì tạo nghiệp xấu, khi chết sẽ đầu thai vào cảnh xấu. Ai tốt, thì cũng sẽ chết, nhưng rồi được đầu thai vào cảnh giới tốt. Phật không kiểm soát quá trình này, mà chỉ nói ra để mọi người hiểu và làm theo. Ai cũng có cơ hội làm lại cuộc đời, hehehe.
Chúa thì bảo con người phải sống theo 10 điều răn. Có như vậy hay không thì khi ta chết, ổng sẽ làm phán quan xem xét sổ đời ta, rồi cho ta lên thiên đàng hay đày vào địa ngục. Vấn đề là chúa giới hạn số người lên thiên đàng, đâu như chỉ có hơn 144000 người Do Thái được lên thôi. không biết đến giờ chúa đã nới quota thêm chưa. Một vấn nạn nữa là trong sách vở được cho là chúa đọc cho người ta chép lại, thì việc chúa xem xét khá là rắc rối, chả thấy có nguyên tắc nhất quán nào hết. Lên thiên đàng rồi mà chán thì cũng không biết có xuống được không (vì có lẽ chúa rút kinh nghiệm từ vụ Satan, nên sau này đã khóa chặt cửa exit của thiên đàng rồi chăng), và đã vào địa ngục thì càng khó thoát nữa (lửa hỏa ngục sẽ đời đời kiếp kiếp đun nóng linh hồn kẻ xấu mà). Phải chăng vì vậy mà cho đến nay chưa thấy ai lên thiên đàng hay xuống địa ngục rồi quay lại kể cho ta nghe.
Đây là câu chuyện có tính mấu chốt, vì liên quan đến sự sống sau cái chết. Người vô thần thường bảo chết là hết. Người tin Phật hay chúa thì bảo có sự sống sau cái chết, và cuộc sống ở đời này có ảnh hưởng đến cuộc sống sau cái chết đó. Vì vậy hãy ráng sống cho tốt. Lý luận như vậy có tính logic của nó, nhưng chả có gì chứng minh được. Nhưng họ thường dùng lý luận đó để nói thêm rằng, người vô thần hay người không tin vào luật nhân quả hay sự sống sau cái chết thì sẽ có xu hướng, hay sẽ chắc chắn làm điều xấu, vì không sợ quả báo hay địa ngục. Nhưng chắc gì đã như vậy.
Tại sao mình dám nói thế. Mình chắc chắn không tin vào địa ngục hay thiên đàng, và không tin vào kiếp sau. Nhưng mình tin rằng mọi việc mình làm đều có hậu quả, làm tốt thì góp phần làm cuộc sống tốt thêm. Không xả rác ngoài đường thì đường phố bớt bẩn và mình cũng được sống trong lành, không chửi thề thì cũng ít bị người ta chửi thề. Nhân quả đến ngay trong đời này, không cần phải chờ đến đời sau làm gì. Cuộc sống tốt đẹp hơn thì ta cũng sung sướng hơn, hạnh phúc hơn. Còn cuộc sống đời sau thì chắc gì đã có thật mà phấn đấu cho mệt. Trên cuộc đời, còn nhiều chuyện oan trái bất công, có kẻ giết người mà lẩn trốn được pháp luật, và người khác bị tù oan, hoặc có khi còn bị tử hình. Mình không tin luật nhân quả giúp gì được nếu phải đợi đến kiếp sau. Pháp luật chính là luật nhân quả của đời này, và pháp luật cũng không thể lúc nào cũng được thực thi toàn vẹn được, nhưng phải tin vào tinh thần thượng tôn luật pháp, tin vào mục đích chính đáng của nó là làm cho xã hội vận hành một cách tốt đẹp hơn. Xã hội vô thần hay hữu thần cũng phải có luật pháp. Ở Vatican có mấy chú tiết lộ tin mật của Giáo hoàng cho truyền thông là bị bỏ tù đó, chứ giáo hoàng có nói là mấy ông đó sẽ xuống địa ngục đâu.

Tại sao không tin vào đời sau thì sẽ làm điều xấu? Tại sao lại cho rằng con người có xu hướng làm điều xấu nếu không có biện pháp chế tài? Đừng nghĩ đơn giản theo các tôn giáo như vậy. Cách tốt nhất để làm cuộc sống tốt đẹp là giáo dục, chứ không phải hù dọa con người bởi những thứ không có thật.

Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại

Chủ nhật ngày 10 tháng 11, nhà thờ Ba cái chuông.

Hôm qua, mọi người được nghe câu chuyện dụ ngôn (ngôn từ dụ dỗ???) về cuộc tranh luận giữa Jesus và mấy người Sadducees. Người Sadducees cũng là dân Do Thái, và họ không tin chuyện Jesus nói về việc người chết sau này sẽ sống lại, nên bày ra chuyện này để hỏi khó Jesus. Thật ra, Jesus cũng đã khá khôn ngoan khi trả lời (mà căn bản là ông ta chả cần phải có bằng chứng chứng minh cho những gì ông nói). Nhưng dù sao thì chuyện người chết sống lại cũng quá sức vớ vẩn. Sống lại để làm cái gì? Hầu hết người ta khi chết đều ở tình trạng không ra gì: già yếu lụ khụ, bệnh tật liệt giường, thượng mã phong, ra đường xe cán, say xỉn ngủ quên trên đường ray xe lửa, sét đánh, sảy chân chết đuối, ra trận bị đạn bắn vỡ sọ, đánh bom liều chết, thiên tai, tuyệt vọng nên treo cổ tự tử v.v. Sống lại trong những cái thây ma đó có khác gì bối cảnh phim The Walking Dead? Khoan đã, có lẽ trước khi cho mấy thây ma đó sống lại, chúa sẽ có một số động tác phẫu thuật thẩm mỹ chăng và bồi bổ bằng nhân sâm cho họ? Khái niệm này mới quá, nên Jesus chỉ nói rằng mọi người sẽ sống lại như các thiên thần (mọc cánh bay???)

Chúng ta còn biết vật chất không mất đi, không sinh ra, mà chỉ chuyển từ dạng này sang dạng khác, từ chỗ này sang chỗ khác. Chắc chắn có những nguyên tử vốn là một phần của cơ thể người này từ cách nay cả ngàn năm, sẽ xuất hiện trong cơ thể một người khác ở hiện tại. (Ví dụ: trứng và tinh trùng vốn là những tế bào của mẹ của cha kết hợp lại thành con, rồi đứa con nó lại đẻ ra con cái cháu chắt. Hoặc ví dụ có người trước khi chết đồng ý cho một người khác thận, tim, gan, mắt) Bây giờ nếu chúa gọi mấy cái thây ma này sống dậy, thì sẽ có trường hợp một cơ số vật chất sẽ tồn tại song song trong cùng một không thời gian. Điều này là không thể, ông Jesus ạ. Cũng không trách ông vì thời đó ở Trung Đông chưa biết đến khoa học hiện đại. Nhưng mấy ông linh mục ngày nay cũng nên hiểu biết một chút chứ. Nói chuyện không có bằng có cớ mà cứ nói oang oang cho cả ngàn người nghe.

Câu chuyện này được ba ông Matthew (22), Luke (20) và Mark (12) đề cập. Riêng trong phúc âm của Luke thì chép rằng Jesus nhấn mạnh đến chuyện người đương thời (thời của Jesus) thì cưới vợ cưới chồng, chứ người sau này được lên thiên đàng thì không. Ý là ai mà kết hôn rồi thì khỏi xin visa lên đó. Quái thật, chả hiểu chuyện lấy vợ lấy chồng thì ảnh hưởng gì đến tình cảm, đạo đức, lối sống mà cấm luôn chuyện lên thiên đàng? Như vậy giáo dân đến nhà thờ cầu cho vợ, cho chồng, cho bố, cho mẹ, cho ông bà tiên tổ đã qua đời được lên thiên đàng để xem thấy mặt bố Jesus sáng sủa tươi cười hớn hở là vô ích? mọi người nhớ nhé, tổ tiên của mình, bản thân mình, và hậu duệ của mình nếu không đi tu (cam kết không sex) thì không lên thiên đàng đâu. Nếu tổ tiên của mình đi tu, thì giờ này không có mình. Nếu mình đi tu, thì mình không có hậu duệ. Nếu hậu duệ mình đi tu, thì dòng họ tuyệt tự luôn á. Chết mất!

Câu chuyện người chết sống lại được nhà thờ biến thành mục đích để kêu gọi mọi người sống cho tốt. Nói chung là ai sống tốt theo lời chúa dạy thì mới được chúa kéo dậy từ cõi chết. Bên cạnh giáo dân kitô giáo, có cả tỷ người vẫn sống tốt đẹp mà chẳng nghĩ gì đến việc làm Walking dead; và trong lòng giáo dân kitô giáo, vẫn có vô số kẻ làm bậy mà vẫn muốn sống lâu. Mình nghĩ chừng nào con người có dân trí cao và đồng bộ, thì sẽ làm cuộc sống và hành tinh này tốt đẹp hơn, mà chẳng màng đến cuộc sống ở kiếp sau - một lý do ích kỷ và là mục đích sống áp đặt bởi nhà thờ đối với con người.

Có thể bạn sẽ nói rằng việc nhà thờ làm thế cũng là để con người ta sống tốt hơn thôi chứ có gì đâu mà phải làm to chuyện. Có ông tông đồ nào đó cũng đã nói thẳng nếu tôi nói dối mà làm vinh quang cho chúa thì tôi càng nên nói (đại ý như vậy, mình không nhớ rõ, nhưng chúa mà có thật thì vả cho ông tông đồ này gãy cả hàm, vì chúa cao cả thế mà lại phải nhờ người phàm nói sạo mới được vinh quang sao?). Mục đích biện minh cho phương tiện mà. Nhưng mục đích của nhà thờ có phải chỉ là kêu gọi người ta sống tốt đâu. Đến nhà thờ, bạn còn được nghe cha xứ nói xấu người Do Thái, người vô thần, người cộng sản, nghe kêu gọi cầu nguyện cho các giáo xứ và linh mục đang làm loạn chống chính quyền, nghe những lời tự phụ cho thiên chúa giáo là độc tôn chân lý và đạo đức. 

Thứ Tư, 6 tháng 11, 2013

Sách tìm đọc Journey to Civilizations, The Science of How We Got Here

Journey to Civilizations, The Science of How We Got Here (sách này mới xuất bản trên Amazon dưới dạng sách giấy, chưa có bản điện tử. Lưu ý đón chờ)


Thử tưởng tượng bạn vừa mới tỉnh giấc ngay nơi bạn đang đọc bài này, không có một chút ký ức nào về quá khứ. Bạn bị mất trí nhớ. Cơ thể và trí não của bạn hoạt động bình thường, nhưng bạn chẳng có ý niệm gì về việc làm thế nào mà bạn đến được nơi này. Bạn không có câu chuyện đời mình, mà không có nó, coi như bạn đang lạc lối. Tệ hại hơn nữa là bạn cũng không biết mình phải làm gì tiếp nữa. Nếu có ai đó thấy bạn như thế này, họ chắc sẽ nghĩ bạn bị mất trí.

Để hiểu được thế giới này và hiểu sự tồn tại của chính mình, mỗi người cần định vị bản thân trong một câu chuyện đời bắt đầu với sự ra đời của chính mình (sau đó một chút cũng được) và câu chuyện này diễn ra liên tục cho đến giây phút hiện tại. Mặc dù ta có thể đi ngủ và tạm không đọc tiếp câu chuyện này mỗi đêm, thì sáng hôm sau thức dậy ta lại có thể tiếp tục câu chuyện này.

Bổ sung cho câu chuyện của mỗi người là một câu chuyện khác bao trùm hơn, sâu xa hơn sự ra đời của mỗi chúng ta; đó là lịch sử gia đình, dòng họ, tổ tiên, và xa hơn nữa là lịch sử văn minh phương Tây (ghi chú khẩn cấp chỗ này, người phương Đông có khi không cần lịch sử????) Ở trường ta được dạy rằng lịch sử được ghi lại từ 5000 năm trước, và hầu như mọi người không ai cảm nhận được mối dây liên hệ nào giữa mình và những sự kiện có trước đó.

Người xưa cũng cần có những câu chuyện để hình dung được cái thế giới đáng sợ này. Những chuyện như vậy được truyền miệng và thường được gọi là các huyền thoại. Hầu như nền văn hóa và xã hội nào trong suốt 60 ngàn năm qua cũng có cái nền huyền thoại rất mạnh nào đó, cộng với huyền thoại khởi tạo để giải thích thế giới này hình thành ra sao và làm sao con người được tạo ra như thế này. Những huyền thoại vào thời xưa được xem như là sự thật cao trọng nhất, phát xuất từ những người khôn ngoan hoặc những nhà tiên tri. Thế nhưng, giờ đây hai chữ huyền thoại được xem như có nghĩa là giả, là sai, là trái với sự thật. Chuyện gì đã xảy ra?

Câu trả lời ngắn gọn chính là khoa học. Đây là phương cách mới và đầy sức mạnh để bộc lộ sự thật, đã phát triển mạnh từ đầu thế kỷ 17, khi những người có tinh thần đổi mới, mà giáo hội thiên chúa giáo gọi là dị giáo, như Nicolaus Copernicus và Galileo Galilei đập vỡ tan tành cái huyền thoại về trái đất là trung tâm của vũ trụ. Sự khôn ngoan đã thay thế cho các huyền thoại, và những câu chuyện về thủa hồng hoang sáng thế được xếp lên kệ dành cho những chuyện cổ tích mộng mơ. Thay vào đó là câu chuyện về một vũ trụ với tính cơ học vật lý mà chủ yếu do Issac Newton khám phá. Thế giới giờ trông giống như một cái đồng hồ khổng lồ, có thể thu nhỏ thành vô số các bộ phận, mỗi cái tuân thủ theo các quy luật vật lý hoàn toàn có thể biết trước được. Hiểu biết những quy luật này, con người có sức mạnh to lớn để kiểm soát và khai thác tự nhiên. Cuộc cách mạng công nghiệp, với động cơ hơi nước làm đầu tàu năng lượng, đã trở thành minh chứng cho ý tưởng này.

Trong khi người cổ đại có được cảm nhận kết nối mạnh mẽ với tự nhiên và kính sợ sức mạnh của tự nhiên, thì khoa học hiện đại và câu chuyện mà nó đem lại về một thế giới có tính cơ học đã khiến con người tách rời và xa lạ với thiên nhiên. Con người không còn giữ câu chuyện kể về việc làm sao con người lại có mặt trên thế giới này, và con người có vị trí thế nào trong vũ trụ. Newton lúc đầu còn mượn đấng tạo hóa làm người vặn đồng hồ cho nhanh, nhưng sau đó, mọi thứ, kể cả con người, đã vận hành theo cơ chế nhân - quả, như những trái banh đập vào nhau trên bàn bida. Chủ nghĩa lãng mạn trong thế kỷ 19 đã cố gắng mà không thành công trong việc chống lại chủ nghĩa quyết định (determinism) và chủ nghĩa duy vật (materialism) của khoa học Newton, còn những người theo thuyết hiện sinh (existentialist) sau đó thì nêu bật lên sự đáng thất vọng và vô lý của con người trong một thế giới vô nghĩa lý.

Cuối cùng, đến cuối những năm 1960, loài người không còn có thể làm ngơ sự thật rằng nhân loại đang đi trên con đường dẫn đến sự diệt vong. Câu chuyện bao trùm trước đó là con người ngự trị trên trái đất, nó là của chúng ta và để chúng ta khai thác, và chúng ta làm thế mà không sợ quả báo. Nhưng rồi càng ngày càng rõ ra là câu chuyện này không phải là sự thật, cũng y như những chuyện huyền thoại cổ xưa, và nó đang giết dần giết mòn chúng ta. Con người thấy mình trong quá trình trở thành sinh vật đầu tiên trên trái đất bị diệt chủng do chính lỗi của mình.

Một câu chuyện mới bắt đầu vào cuối thế kỷ 20, lần này chính khoa học cung cấp bằng chứng cho câu chuyện. Lần đầu tiên trong lịch sử, con người kết nối các mảnh của câu chuyện sáng thế cuối cùng, từ sự ra đời của vũ trụ và các vì sao đầu tiên, cho đến sự hình thành trái đất, sự tiến hóa của sự sống, và sự di cư phân tán của con người hiện đại ra khỏi vùng đất châu Phi để chinh phục toàn hành tinh. Một số sách đã kể lại câu chuyện vĩ đại này từ nhiều góc độ khác nhau, như sách Câu truyện về vũ trụ, một cuốn sách đầy tính thơ và tâm linh của Thomas Berry và Brian Swimme (NXB HarperOne, 1994), sách "những tấm bản đồ thời gian" của nhà sử học David Christian (NXB University of California Press, 2005) và bản sách dựa trên khoa học của chính tôi là cuốn "Hành trình đến văn minh" (NXB Collins Foundation Press, 2013).

Quan điểm truyền thống về lịch sử nói rằng con người thời tiền sử đã đạt được mức độ văn minh khoảng 5000 năm trước tại vùng Trung Đông, tiếp theo đó là Ai Cập, Hy Lạp, La Mã, thời đại bóng tối, thời phục hưng, v.v. Trong quá trình này là vô số các cuộc chiến tranh, bạo lực, tàn bạo, với những nhà cầm quyền hùng mạnh và những con người bị áp bức, dẫn đến câu kết luận là lịch sử luôn lặp lại bản thân nó, và vì vậy, số phận của nhân loại là lặp đi lặp lại cái mô thức này mãi mãi. Diễn viên và bối cảnh có thể thay đổi, nhưng kịch bản luôn là thế. Tương lai như vậy thật không đáng là tương lai.

Nhưng nếu nghĩ rộng ra, ta sẽ thấy khác, vì 5000 năm qua chỉ là một thoáng chốc trong một vở kịch vĩ đại bắt đầu đã 14 tỷ năm rồi. Từ góc độ này, ta chẳng thể nào lại cho rằng con người sẽ bị kẹt lại trong lối mòn hiện nay, hoặc đã đạt đến cái đích cuối cùng nào đó. Các hóa thạch khám phá được cho thấy con người trong hình thái hiện đại như ngày nay có mặt trên trái đất ít nhất là khoảng 200.000 năm, và suốt từ đó đến giờ luôn có sự tiến hóa, biến đổi. Ta sẽ thấy rằng 5000 năm qua chỉ là giai đoạn gần nhất mà con người đã sẵn sàng phát triển nhanh chóng. Có lẽ là chiến tranh, thống trị, và khai thác rồi sẽ không còn có ích cho con người nữa. Có lẽ cả một thời đại mới đang ở trước mắt chúng ta, và chúng ta thì đang trong một giai đoạn chuyển đổi đầy khó khăn. Câu chuyện về nguồn cội này mà khoa học đang đem đến cho chúng ta lại là một huyền thoại sáng thế mới. Đó là câu chuyện về tất cả loài người, tất cả các sinh vật sống, và về cả bản thân vũ trụ. Câu chuyện này đánh thức chúng ta về vô số những khả năm mới cho nhân loại, và khơi nguồn cảm hứng cho chúng ta để tạo ra một thế giới tốt đẹp hơn.

Thứ Hai, 4 tháng 11, 2013

Ông Zacchaeus

Chủ nhật 03 tháng 10. Luke 19

Câu chuyện Jesus gặp ông Zacchaeus thật  cũng không có gì đáng nói lắm (không biết linh mục lấy đâu ra lắm ý tưởng để mà tán thế không biết). Tuy nhiên, tìm hiểu thêm thì thấy người ta đã nói đến cái motif người thu thuế trong tân ước, theo đó người thu thuế làm một cái nghề bị dân Do Thái nguyền rủa vì hợp tác với kẻ thống trị (là bọn Rome ngoại giáo) và ăn chặn tiền của người Do Thái, thế nhưng trong tân ước thì người thu thuế mỗi khi gặp Jesus đều trở thành kẻ tốt: Mathews bỏ nghề thu thuế để theo Jesus, ông thu thuế vào nhà thờ sám hối, xin chúa tha tội, và ông Zacchaeus thì từ bỏ một nửa của cải để cho người nghèo. Tân ước âm thầm biến những kẻ tội lỗi trong mắt người Do Thái thành những người hiền lành, đáng yêu, còn đại đa số người Do Thái là bọn đạo đức giả, hợm hĩnh. 

Thứ Ba, 29 tháng 10, 2013

Người Pharisee và người thu thuế

Nhà thờ Ba Chuông, chủ nhật 26.10
Luke 18. Tiếp theo câu chuyện ông quan tòa lười và bà góa, Jesus kể chuyện về người Pharisee và người thu thuế. Người Pharisee cũng là dân Do Thái, nhưng họ là một phong trào có tính chính trị, xã hội, và tôn giáo với xu hướng khác với những người Do Thái khác. Trong kinh thánh, người Pharisee hay bị Jesus và các môn đệ chỉ trích là bọn đạo đức giả. Trong câu chuyện này cũng vậy, một ông Pharisee vào nhà thờ, chả xin xỏ gì, chỉ nói rằng mình là người công chính, hay cho tiền kẻ nghèo, ăn chay nhiều hơn bình thường. Còn một ông là người thu thuế, đến xin chúa tha thứ vì ổng làm nghề tội lỗi. Thời đó, người thu thuế làm việc cho triều đình để lấy tiền thuế của dân, có lẽ tiền thuế thì cao, mà triều đình thì cũng không chính danh vì lý do Do Thái khi đó bị Rome đô hộ; vì thế nghề thu thuế bị coi là thất đức.

Thật ra, ông Pharisee không xin xỏ, mà là cảm ơn chúa đã giúp cho ông không bị rơi vào cảnh xấu, không phải làm việc xấu, như người thu thuế kia. Như vậy, mục đích đến nhà thờ của ổng cũng chính đáng chứ. Không lẽ đến chỉ để xin xỏ. Còn ông thu thuế kia, vì lý do gì mà làm nghề thất đức mà lại không từ bỏ nghề đó, vừa hành nghề xấu vừa xin tha tội là lý làm sao? Xem ra trong 2 người, chưa chắc ai đã đạo đức giả hơn ai. Jesus chê người Pharisee, vì cho ông ta là kẻ kiêu ngạo, trước mắt chúa chả có ai vô tội, ai cũng phải có tội gì mới được. Theo chúa thì nhục vậy đó, chết rồi thế nào cũng bị rủa xả đã đời.

Kết thúc lễ, ca đoàn Đa Minh Ba Chuông cầu nguyện cho Giám mục Phero ở Vinh được chúa phù hộ chống lại thế lực xấu, cả cộng đoàn cùng đáp lời "xin chúa nhận lời chúng con". Mình tự hỏi trong những người ở đây, bao nhiêu người biết chuyện gì đang xảy ra, bao nhiêu người biết ông Phero Hợp, bao nhiêu người có đủ lý trí và kiến thức để tìm hiểu cái nhìn đa chiều, và thực ra thì có bao nhiêu người quan tâm chuyện ở xứ Nghệ nó là cái quái quỷ gì. Với nhà thờ chuyện này không quan trọng. Ca đoàn cầu nguyện, cộng đoàn đáp ca, càng đông càng tốt, có thể chúa sẽ dễ nghe thấy hơn. Nhà thờ khoái chí khi định vị mình là phía đối nghịch với chính quyền, là phe có chính nghĩa, là dân của chúa, là chả bao giờ sai. Sức mạnh của nhà thờ đến từ sự chống đối chính quyền, coi thường chính quyền, coi thường tôn giáo khác, coi thường tự do không tôn giáo. Sức mạnh đó sẽ kéo dài được bao lâu? Khi nào dân trí tốt lên, đất nước này mạnh lên, hy vọng nhà thờ sẽ hết chỗ bấu víu.

Thứ Hai, 21 tháng 10, 2013

Luke 18: ông quan tòa không sợ chúa và bà góa

Truyện này nghe ở Ba Chuông, lễ thiếu nhi sáng chủ nhật, kể về một ông quan tòa và một bà góa già. Bà này có gì oan ức, nên cứ đến khiếu nại với ông quan. Lẽ ra theo chức phận, ông ta phải xử cho bà, nhưng ông lại không làm thế. Vậy nên bà già phải đến cửa quan nhiều lần, riết rồi ông ta phải chịu xử cho bà, để khỏi bị làm phiền. Jesus kể chuyện này cho học trò nghe, bảo rằng ông quan tòa kia vốn không sợ thượng đế, cũng coi khinh người ta, mà còn phải xử cho bà góa, thì con người hãy cứ cầu nguyện nhiều nhiều, chắc chắn rồi chúa sẽ lắng nghe và ban phúc. Kết luận thêm 1 câu: "chỉ sợ khi Con của Người đến, thì không biết người ta còn niềm tin không".

Hứ!!! chuyện dụ ngôn gì kỳ cục vậy. Trên skepticsannotatedbible, Steve Wells bảo ông quan tòa nhảm nhí kia là hình ảnh của chúa (lười biếng, thù hận, bất công), nhưng đúng ra Jesus chỉ lấy ông quan tòa ra để nhấn mạnh rằng, nếu như một ông quan tòa nhảm nhí kia mà còn phải đứng ra phân xử cho bà góa vốn không có ai chống lưng, thì thiên chúa chắc chắn sẽ phân xử cho dân của ngài. Thế nhưng, Jesus kể chuyện này xem ra vẫn dở ẹt. Thứ nhất, nếu không đề cập chuyện ông quan tòa là người không sợ thiên chúa thì cũng chả ảnh hưởng gì, vậy Jesus đề cập để làm cái gì? Thứ hai, chuyện này hàm ý mọi người cứ cầu nguyện cho nhiều, chúa nghe mãi phát mệt rồi sớm muộn cũng sẽ phải có hành động gì thôi (chúa cũng biết mệt!). Thế không lẽ chúa cũng sợ người ta cầu nguyện nhiều nên mới ra tay giúp? Giờ mới biết con người nói nhiều cũng là cách làm chúa sợ. Bởi vậy phải thông cảm cho những người lấy phải vợ lắm lời. Thứ ba, nếu chúa lo rằng khi Con của Người đến thì không biết còn niềm tin trên trái đất không, thì tại sao chúa không gửi con quay lại trái đất cho mau. Ông quan tòa kia đứng ra phân xử cho bà góa vì sợ nghe nhiều nhức óc, chứ có phải vì sợ bà ta chán không đến khiếu nại nữa đâu.



Thứ Năm, 17 tháng 10, 2013

Christian scientists

http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_Christian_thinkers_in_science
http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_Roman_Catholic_cleric–scientists

Mình luôn chủ trương cố gắng làm sao để kiểm chứng thông tin, coi như một phương pháp của "critical thinking" (suy nghĩ với tinh thần phê bình, dịch thế cũng chưa hay lắm, hehe). Nhân đọc sách "Why I am not a Christian - Four conclusive reasons to reject the faith", mình mon men lên Amazon xem họ nói gì. Tất nhiên là mình đồng ý với tác giả rồi, nhưng những người khác thì chưa chắc. Nhờ thế mà biết được thuyết Big Bang là do một thầy tu người Bỉ đề xướng, và các nhà khoa học thì tìm ra bằng chứng cho thuyết này. Tìm hiểu tiếp thì ra danh sách các nhà khoa học tin vào Thượng Đế tại các địa chỉ wiki ở trên. Mình chưa đọc kỹ danh sách và tìm hiểu về sự nghiệp của các vị này, nhưng thấy thật thú vị vì bên cạnh một đám thần học nói năng lộn xộn, cũng có nhiều người có tinh thần khoa học dù sống trong môi trường Thiên chúa giáo. Có thể nói một nhóm là bọn sinners còn những người kia là redeemers. Hahaha!!!

Kế hoạch là tìm hiểu danh sách này. Mình nghi rằng trong danh sách này có thể lọc ra được những vị đi theo khoa học đến nỗi sau này xung khắc với nhà thờ. có những phát kiến bị nhà thờ lợi dụng bảo là đấy là bằng chứng của chúa (ghét nhất là chuyện hạt Gigg gì đó bị đặt là hạt của chúa), và cũng có thể có đâu đó danh sách những nhà khoa học bị nhà thờ bách hại (như Bruno, Galileo), chống đối (như Darwin).

Dù sao đi nữa, đến thời nay thì có vẻ TCG đã hết ảnh hưởng được đến khoa học rồi. Mừng quá!

Lumbini

Bài trên Giao Điểm về Lumbini, tâm điểm của cuộc tranh giành ảnh hưởng đối với Phật Giáo giữa TQ và ÂĐ
http://www.giaodiemonline.com/noidung_detail.php?newsid=7939
http://thuvienhoasen.org/D_1-2_2-85_4-19265_5-50_6-4_17-180_14-1_15-1/trung-quoc-va-an-do-tranh-danh-nhau-mot-bieu-tuong-phat-giao.html

Trung quốc và Ấn Độ tranh dành nhau một biểu tượng Phật giáo
Hoang Phong chuyển ngữ
đăng ngày 16/10/2013

Tờ nhật báo uy tín Le Monde của Pháp ngày 18 tháng 9 năm 2013, trong mục Địa Lý và Chính Trị và qua một bài viết của  ký giả Frédéric Robin đặc phái viên ở New Delhi, đã nêu lên các mưu đồ và tham vọng quốc tế nhằm khai thác thánh địa Phật Giáo Lâm-tì-ni (Lumbini). Dưới đây là phần chuyển ngữ.
Thật là cả một sự tranh dành ảnh hưởng vô cùng khốc liệt hiện đang bùng lên trong dãy núi Hy-mã-lạp-sơn. Hai nước Trung Quốc và Ấn Độ đang đối đầu nhau trước biểu tượng của Đức Phật, tượng trưng cho sự đoàn kết giữa các dân tộc Á Châu. Quả thật đây là một cuộc đọ sức không gây ồn ào, thật kín đáo và vô cùng bí mật, tuy nhiên không phải vì thế mà kém phần quyết liệt. Ngoài các mặt trận đã được dàn ra giữa hai siêu cường Á Châu (như sự tranh chấp biên giới, chạy đua về năng lượng, tranh dành ảnh hưởng ở Ấn Độ Dương...) thì một mặt trận mới cũng đang được mở ra với những "đòn chính trị" thật quy mô. Nếu dựa vào cách nói đang thịnh hành trong thời buổi ngày nay thì có thể bảo rằng cuộc tranh dành kín đáo chưa được công bố ấy là cả một mặt trận tranh dành "quyền lực mềm" ("soft power"). "Quyền lực mềm" là một cách mà các siêu cường ngày nay thường sử dụng để thăm dò phản ứng của nhau, ngoài các hình thức biểu dương sức mạnh khác. "Quyền lực mềm" Phật Giáo với một tầm ảnh hưởng rộng lớn mang tính cách toàn cầu là cả một tiềm năng mà bất cứ một quốc gia nào tự cho mình là nước lãnh đạo Á Châu đều phải quan tâm đến.
            Trong các phòng khách sang trọng và kín đáo dưới tầng hầm của một khách sạn năm sao ở New Delhi (thủ đô Ấn Độ) các buổi họp đầu tiên của International Buddhist Confederation (IBC / Liên Đoàn Phật Giáo Thế Giới) đã diễn ra từ ngày từ 9 đến 12 tháng 9 vừa qua, đánh dấu giai đoạn chín muồi của sự tranh chấp trên đây. Trên phương diện chính thức thì IBC (Liên Đoàn Phật Giáo Thế Giới) chỉ giữ vai trò của một tổ thức "Liên Hiệp Quốc Phật Giáo" (Nations Unies du Bouddhisme), tức là một phương tiện nhằm gom tất cả các học phái - Mahayana (Đại Thừa), Hinayana (Tiểu Thừa), Vajrayana (Kim Cương Thừa) - vào một di sản tâm linh chung cho 400 triệu tín đồ trên toàn thế giới. Sự hiện diện trong các buổi họp mặt ở New Delhi của các đại biểu đến từ khoảng bốn mươi quốc gia trên thế giới đã cho thấy một tiếng vang nào đó. Dầu sao thì cũng còn quá sớm để tiên đoán tương lai của IBC. Hiện nay, người ta chỉ có thể biết một cách chắc chắn là dự án trên đây là do nước Ấn đưa ra - mà người đứng ra tổ chức là Lạt-ma Lobzang, một nhân vật thân cận của triều đại Nehru-Gandhi - không phải chỉ mang mục đích tôn giáo. Chủ đích Địa lý Chính trị (Géopolitique / Geo-policy) hiện ra thật rõ rệt.
            Tổ chức Liên Đoàn Phật Giáo Thế Giới (IBC) do Ấn Độ thành lập là nhằm chống lại các sinh hoạt của một tổ chức khác gọi là World Buddhist Forum (WBF / Diễn Đàn Phật Giáo Thế Giới) dưới sự bảo trợ của Trung Quốc. Diễn Đàn này được thành lập sau các buổi hội họp được tổ chức ở Hàng Châu (Hangzou) trong vùng phía nam Thượng Hải (Shanghai) vào năm 2006. WBF (Diễn Đàn Phật Giáo Thế Giới) là một công cụ mà Bắc Kinh sử dụng để o bế (trong nguyên bản là chữ amadouer / coax / vuốt ve) các tập thể Phật Giáo bằng cách hứa hẹn một sự đỡ đầu thân thiện. Tổ chức này nằm trong chính sách ngoại giao tích cực nhân danh Phật Giáo, được đưa ra liên tiếp từ mười năm nay qua các cuộc triển lãm lưu động về chiếc "răng" và đốt "ngón tay" Phật, được xem là xá lợi của chính Đấng Giác Ngộ mà Trung Quốc đang lưu giữ. Năm 2012 trong lần họp thứ ba của WBE tổ chức tại Hồng Kông, một mảnh xương sọ được xem là của chính Đức Phật - khám phá ra hai năm trước đó ở Nam Kinh (Nankin) - được đưa ra trưng bày một cách trang trọng.
Địa lý Chính Trị trong vùng Hy-mã-lạp-sơn là cả một sự thách đố
            Nhìn qua thì các buổi họp của Diễn Đàn Phật Giáo Thế  Giới (WBF) do Bắc Kinh giật dây cũng không đến nỗi nào thua kém so với các buổi họp của Liên Đoàn Phật Giáo Thế Giới (IBC) được tổ chức ở New Delhi (do Ấn Độ chủ xướng). Tuy nhiên thật hết sức khó cho tổ chức Diễn Đàn Phật Giáo Thế Giới (WBF) vượt xa hơn biên giới của các nước thuộc khối Trung Quốc (gồm Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan và các cộng đồng Đông Nam Á), trong khi đó thì Liên Đoàn Phật Giáo Thế Giới (IBC) đã mở ra một chân trời rộng lớn hơn. Sự khác biệt trên đây một phần là do ảnh hưởng của vấn đề Tây Tạng. Trong các buổi họp của Diễn Đàn Phật Giáo Thế Giới (WBF / do Trung Quốc tổ chức), Gyancain Norbu tức là vị Panchen-lama [nhân vật đứng hàng thứ hai trong Phật Giáo Tây Tạng - ghi chú trong nguyên bản] do Bắc Kinh chọn lựa (được chỉ định là vị tái sinh của vị tiền nhiệm) và cố tình mang ra dàn cảnh. Những người ủng hộ Đức Đạt-Lai Lạt-Ma tức là vị lãnh đạo tối cao của Phật Giáo Tây Tạng đang lưu vong ở Dharamsala (Ấn Độ)không hề công nhận sự hợp pháp của vị này. Một trong các chủ đích của Diễn Đàn Phật Giáo Thế Giới (WBF / do Trung Quốc tổ chức) là mang Panchen-lama thứ XI ra trưng bày trước cộng đồng thế giới với mục đích hy vọng có thể chính thức hóa vị này, thế nhưng hy vọng đó cho đến nay thật hết sức mong manh. Qua những bài diễn văn yêu nước cho rằng xứ sở Nóc Nhà của thế giới (tức là nước Tây Tạng)thuộc lãnh thổ Trung Quốc do chính Panchen-lama đọc lên cho thấy vị này là người ủng hộ Bắc Kinh. Trong khi đó những người trung thành với Đức Đạt-Lai Lạt-Ma lại hiện diện đông đảo hơn trong tổ chức Liên Đoàn Phật Giáo Thế Giới (IBC) đặt trụ sở ở New Delhi. Trên thực tế IBC đã dựa vào ánh hào quang tỏa rộng mà vị "Đại Dương Trí Tuệ" (tức là Đức Đạt-Lai Lạt-Ma XIV) đã tạo được cho toàn thể gia đình Phật Giáo với những biên giới rộng lớn, vượt xa hơn tầm ảnh hưởng của các học phái Phật Giáo Tây Tạng. (Ảnh bên: Panchen-lama (BBC World)
            Giữa cảnh tranh dành đó, mỗi quốc gia (tức Trung Quốc và Ấn Độ) đều tìm cách đưa ra đủ mọi bằng chứng nhằm dành chính nghĩa về phần mình. Trung Quốc không ngớt hô hào rằng mình là quốc gia có số tín đồ Phật Giáo đông đảo nhất thế giới. Về phía Ấn Độ, nơi mà Phật Giáo đã bị Ấn Giáo đông đảo hơn lấn lướt qua nhiều thế kỷ, thì cho rằng Đức Phật đã được sinh ra trên đất Ấn. Phái bộ Azoka giữ trọng trách tổ chức IBF ở New Delhi tuyên bố rằng "Ấn độ chính là cội nguồn của Phật Giáo". Sự khẳng định trên đây cần phải được xét lại, bởi vì Lâm-tì-ni nơi Đức Phật đản sinh vào thế kỷ thứ VI trước Tây Lịch, thật ra là thuộc lãnh thổ của nước láng giềng Nepal, và người dân Nepal thì không hề tán đồng sự mạo nhận đó của Ấn Độ. Dầu sao các thánh địa khác của Đức Phật và các đệ tử của Ngài - chẳng hạn như Bồ-đề Đạo Tràng (Bod Gaya), Tiên Uyển (Sarnath), Na-lan-đà (Nalanda)... - rõ ràng là thuộc vào lãnh thổ Ấn, và New Delhi bắt đầu đẩy mạnh các kế hoạch khai thác ngành du lịch tâm linh.
            Chính trong lãnh vực này đang diễn ra một trận đấu thật ngoạn mục giữa Trung Quốc và Ấn Độ xoay quanh "quyền lực mềm" Phật Giáo. Nhằm đối đầu với con đê khổng lồ của Ấn Độ, Trung Quốc đã bọc hậu và tràn ngập phía sau các thánh địa. Năm 2011, Tổ Chức Phi Chính Phủ (Organisation Non Gouvernementale, ONG / Non-governmental Organisation, NGO) đặt tại Hồng Kông liên hệ với Bắc Kinh là Asia Pacific Exchange and Corporation Foundation (APECF / Cơ Quan Trao Đổi và Hợp Tác giữa các Quốc Gia Á Châu trong vùng Thái Bình Dương) đề nghị với người Nepal là sẽ đầu tư 3 tỉ đô-la (2,25 tỉ euros) - tương đương với 85% thuế thu nhập của toàn xứ Nepal - để "phát triển" thánh địa Lâm-tì-ni, nơi đản sinh của Đức Phật. Sáng kiến này bất ngờ làm bùng lên một sự hăng say trong toàn vùng Hi-mã-lạp-sơn. APECF (tức Cơ quan trao đổi và hợp tác trên đây) chọn ngay Pushpa Kamal Dahal làm người đại diện cho chương trình trên đây ở Nepal, nhân vật này mang bí danh là "Prachanda", nổi tiếng là một người khuấy động, trước đây từng là thủ lãnh của nhóm cựu-nổi-loạn theo chủ nghĩa Mao (Maoism) đã được hợp thức hóa sau hiệp ước hòa bình ký kết vào năm 2006. Prachanda cũng đã từng làm thủ tướng Nepal vào các năm 2008 và 2009.
Có quá nhiều dự án
            Trùng tu Lâm-tì-ni là một câu chuyện cũ mèm, thế nhưng gần đây lại được hâm nóng trở lại. Câu chuyện bắt đầu từ năm 1970 khi một kiến trúc sư người Nhật là Kenzo Tange dưới sự bảo trợ của Liên Hiệp Quốc đã đưa ra một dự án về vấn đề này. Thế nhưng sự nhiệt tâm ban đầu đã bị sa lầy nhanh chóng trong các ngõ ngách quan liêu của xứ Nepal và tình trạng bất ổn nội bộ của một xứ sở bé tí nằm kẹt giữa Trung Quốc và Ấn Độ trong vùng Hy-mã-lạp-sơn. Năm 2010, bỗng dưng  người ta lại quan tâm đến Lâm-tì-ni với sự hình thành của một dự án mới, do một nhóm người Mã Lai gốc Trung Quốc theo Phật Giáo Tây Tạng đưa ra. Dự án này nhằm biến Lâm-tì-ni thành một nơi du lịch đại chúng dành vào việc hành hương, tương tự như thánh địa Mecca (La Mecque / Mecca) của người Hồi Giáo.
            Thật rõ ràng đây là một dự án "ăn cắp" của Cơ Quan Trao Đổi và Hợp Tác giữa các Quốc Gia Á Châu trong vùng Thái Bình Dương (APECF) do Trung Quốc giật dây. Bề ngoài chương trình này được điều hành bởi một nhân vật rất bí mật tên là Xiao Wunan dưới sự chỉ đạo của các cấp cao trong Đảng Cộng Sản Trung Quốc, và được đẩy mạnh trong các cộng đồng người Hoa vùng Đông Nam Á. Sự giao hảo thân thiện với nhóm nổi loạn theo chủ nghĩa Mao của Nepal do Prachanda lãnh đạo cho thấy APCEF phải chịu một áp lực nào đó và đã biến thành một sức mạnh đang lên trong bối cảnh sôi sục của thánh địa Lâm-tì-ni. Mùa xuân năm 2011, lại thấy xuất hiện hai nhân vật mới đưa ra một dự án khác, thế nhưng dự án này lại cũng chỉ là một sự vay mượn cả đường lẫn bột với dự án của người Mã Lai trước đây, chỉ khác là được hậu thuẫn bởi một sức mạnh chính trị quan trọng hơn nhiều. Vài tháng sau đó thì một diễn viên thứ ba lại xuất hiện: đấy là kiến trúc sư Hàn Quốc Kwaak Young Hoon, là một người đã từng quan tâm đến Lâm-từ-ni từ lâu trước đó. Người kiến trúc sư này được sự ủng hộ của Korea International Cooperation Agency (KOICA / Cơ Quan Hợp Tác Quốc Tế Hàn Quốc) là một cơ quan trực thuộc chính quyền Seoul(Nam Hàn).
            Tóm lại hiện nay đang có quá nhiều dự án liên quan đến Lâm-tì-ni nơi đản sinh của Đức Phật. Giữa cảnh hỗn độn đó, vào năm 2002 lại bắt đầu xảy ra các cuộc tiếp xúc giữa các nhóm trên đây với mục đích phối hợp các sáng kiến theo các đường hướng khác nhau nhằm tìm cách lôi kéo sự chú ý của Liên Hiệp Quốc. Chẳng phải là di tích Lâm-tì-ni đã được cơ quan UNESCO đưa vào danh sách di sản của nhân loại hay sao? Thế nhưng trong đầu óc mỗi người hình như đều phát sinh một thứ cảm tính nghi ngờ cho rằng chắc hẳn phải có những âm mưu nào đó tàng ẩn phía sau những sự lèo lái trên đây. Thế nhưng ai lèo lái ai? Và ai tìm cách hất chân ai? Chính Kwaak Young Hoon (kiến trúc sư Hàn Quốc trên đây) đã từng tiết lộ một giai thoại cho báo Le Monde với mục đích thăm dò mức độ nghi ngờ đang tàng ẩn kín đáo trong bối cảnh trên đây. Khi vừa mới gia nhập vào cuộc chạy đua này, vị kiến trúc sư Nam Hàn đã nhận được ngay một thông điệp của một vị Bộ Trưởng trong chính quyền Katmandou (Nepal) - tất nhiên là dưới áp lực của nhóm nổi loạn theo chủ nghĩa Mao - phải trưng ra bằng cớ sẽ "không chống lại Trung Quốc". Kiến trúc sư Kwaak đành phải tuyên bố rằng mình "không chống Trung Quốc".
"Đức Phật là người Ấn"
            Trước những sự việc xảy ra trên đây, Ấn Độ cũng bắt đầu cảm thấy nao núng trước sự khuấy động của tổ chức APCEF thiên Bắc Kinh. Vị chủ tịch Indian Council for Cultural  Relations (ICCR /  Hội Đồng Quan Hệ Văn Hóa Ấn Độ) và đồng thời cũng kiêm nhiệm chức chủ tịch văn phòng Ngoại Giao của Đảng Quốc Đại (Parti du Congrès / Congress Parti / một đảng chính trị quan trọng của Ấn Độ) hiện đang cầm quyền, là Karan Singh đã lên tiếng như sau: "Ấn Độ sẽ không thể làm ngơ trước các công trình phát triển Lâm-tì-ni", tất nhiên điều này cho thấy rằng việc phát triển Lâm-tì-ni là một trong những công cụ nhằm củng cố "quyền lực mềm" của Ấn Độ. Thế nhưng vị chủ tịch Singh thì lại xác nhận rằng lý do chính thức là vì "Đức Phật là người Ấn Độ". Dầu sao thì sự kiện này còn là - hay đúng hơn nhất thiết là - một kế hoạch chiến lược.
            Dưới con mắt của người Ấn, tham vọng của Trung Quốc về một vùng thánh địa Phật Giáo nổi tiếng là Lâm-tì-ni, chỉ cách biên giới của Ấn vài cây số, là cả một sự thách thức lớn lao trên phương diện địa lý chính trị. Phải chăng một mối bức xúc cũng đang bùng lên trong chính quyền New Delhi hay chăng?  Người Ấn rất e ngại là nếu dự án của Cơ Quan Trao Đổi và Hợp Tác giữa các Quốc Gia Á Châu thuộc Thái Bình Dương APCEF (thân Trung Quốc) thành công thì tất nhiên Trung Quốc cũng sẽ gây được ảnh hưởng đối với các nhà sư trong vùng Hy-mã-lạp-sơn, nhằm chờ đợi sau này khi Đức Đạt-Lai Lạt-Ma viên tịch sẽ kiểm soát toàn bộ cộng đồng người Tây Tạng. Một viên chức cao cấp của chính phủ Ấn Độ trước đây là Jayadeva Ranade hiện đang được thu dụng trở lại trong việc phân tích chiến lược, đã tỏ ra rất lo ngại khi tuyên bố rằng: "Trung Quốc có thể sẽ mượn Lâm-tì-ni để thành lập một đạo quân thứ năm dàn ra trước cửa ngõ của nước Ấn"
            Dự án của APECF cũng đã cho thấy một vài dấu hiệu đuối sức - thế nhưng chắc là sẽ không bị hủy bỏ - lý do là tình trạng thù địch đang nghiêm trọng. Các người Phật Giáo Nepal hết sức bực tức vì tất cả hai bên đều không hề quan tâm đến họ, do đó họ cũng huy động các lực lượng trong tay mình để chống lại "âm mưu cướp đất" (spoliation foncière / land dispossession) đang hăm dọa tập thể người địa phương (tức sắc tộc Tharu) đang sinh sống chung quanh Lâm-tì-ni trong vùng đồng bằng Teraï. Dù chỉ mang tính cách địa phương, thế nhưng Ấn Độ không hề nhìn phong trào trên đây với con mắt bàng quang. Một thành viên Phật Giáo thuộc phong trào này ở New Delhi thú nhận rằng: "Người Ấn giúp đỡ chúng tôi trên mặt tinh thần".  Mọi sự hiện nay cũng đã trở nên sáng tỏ hơn, và một vị lãnh đạo Phật Giáo Nepal cũng đã từng tuyên bố như sau: « Lâm-tì-ni đã trở thành tâm điểm của cả một « cuộc chơi lớn » giữa Ấn Độ và Trung Quốc ». Nơi đang gây ra chấn động và cơn sốt trên đây cũng là điểm gặp nhau giữa những người tu hành, những tay khuấy động thừa cơ nước đục thả câu, các chính trị gia, các nhà tranh đấu bản địa (người dân thiểu số thuộc các sắc tộc địa phương), và cả một bọn trục lợi cá mè một lứa.

Vài lời ghi chú của người dịch

            Lâm-tì-ni nằm trong vùng đồng bằng Taraï phía nam xứ Nepal và là nơi đản sinh của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Năm 249 trước Tây Lịch vua A-dục và nhà sư Ưu-bà-cúc-đa (Upagupta) vừa là thầy vừa là quốc sư của đế quốc của ông, cả hai cùng đến viếng Lâm-tì-ni, lúc đó là một ngôi làng trù phú. Vua A-dục cho xây dựng tại nơi này bốn ngôi chùa và một trụ đá cao sáu thước. Trên trụ đá có khắc một câu như sau: " Vị vua yêu quý của các thiên nhân là Piyadasi (một tên khác của vua A-dục) đã đích thân đến viếng nơi này vào năm thứ 20 sau ngày đăng quan. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã sinh ra tại nơi đây...". Dựa vào các chi tiết khác khắc trên trụ đá thì Đức Phật sinh vào năm 623 trước Tây Lịch.
            Ngược về bốn thế kỷ trước đó, tức là trước khi vua A-dục và nhà sư Ưu-bà-cúc-đa đến đây thì ngôi làng Lâm-ti-ni là một khu vườn rộng lớn thuộc xứ Kiều-tát-la (Kosala) của nhà vua Tịnh Phạn (Suddodhana).  Kinh sách bằng tiếng Pa-li cũng như bằng tiếng Phạn đều có nói đến khu vườn này và cho biết đây là một khu vườn mênh mông, thật thanh tú và có trồng nhiều cây sala. Sala tên khoa học là Shorea robustatrổ hoa rất đẹp.
            Hôm ấy là giữa tháng năm và cũng vào giữa mùa xuân, nơi kinh đô Ka-tì-la-vệ (Kapilavastu) hoàng hậu Mai Da (Maya Devi) vợ vua Tịnh Phạn, dù đang có mang thế như vẫn quyết định về thăm cha mẹ sinh ra mình ở thị trấn Devahada. Nào có ai ngờ được là quyết định bất ngờ ấy của một bà hoàng hậu một xứ bé tí thu mình duới chân dãy Hy-mã-lạp-sơn đã đánh dấu một biến cố lớn trong lịch sử nhân loại. Đi được nửa đường, Hoàng hậu và các người tùy tùng dừng lại nghỉ trong khu vườn Lâm-tì-ni xinh đẹp. Trong khu vườn có xây một hồ nước trong để dân chúng trong vùng đến tắm. Hoàng hậu và một vài người hầu cũng xuống tắm. Sau đó hoàng hậu ngồi tựa vào một gốc cây sala nghỉ ngơi. Thế rồi hoàng hậu bỗng nhiên cảm thấy chuyển bụng. Bà bèn đứng lên, một tay nắm chặt một cành cây sala, một tay quàng vai một người hầu và sinh ra thái tử Tất-đạt-đa Cồ Đàm từ "bên cạnh sườn" (xem hình). Đứng để sinh đẻ là một tập tục lâu đời ở Á Châu và gần đây vẫn còn thấy ở một vài sắc tộc.
            Thái tử Tất-đạt-đa không sinh ra trong chốn cung điện mà sinh ra dưới một gốc cây trong khu vườn Lâm-tì-ni như bất cứ một kẻ vô gia cư nào khác. Ba mươi lăm năm sau vào giữa mùa xuân và cũng vào một đêm giữa tháng năm trăng tròn, dưới một gốc cây trong một khu rừng hoang vắng, thái tử Tất-đạt-đa đạt được Giác Ngộ và trở thành một vị Phật. Đức Phật thuyết giảng lần đầu cũng dưới một gốc cây nơi khu vườn Tiên Uyển (Sarnath). Tám mươi tuổi, kiệt lực, Đức Phật cũng lại nằm xuống đất giữa hai gốc cây trong một khu rừng,
            Từ ngày lánh xa thế tục, Đức Phật chỉ có hai manh áo cà sa thay đổi trên người, một chiếc bình bát trên tay, và đi chân đất để khất thực. Ngài luôn dừng lại bên ngoài các khu đô thị hầu tránh xa các cảnh bon chen. Ngoài giáo lý mà Đức Phật đã để lại cho nhân loại, chính cuộc sống của Ngài cũng là một tấm gương cho chúng ta cùng soi. Một người tu tập chân chính có cảm thấy khiếp sợ - nếu không muốn nói là kinh hoàng - khi đọc những gì mà bài báo trên đây đưa ra hay không? Rồi đây, Lâm-tì-ni sẽ trở thành một nơi đô hội, một bãi chiến trường giữa những kẻ âm mưu, một nơi hội tụ của những kẻ thừa cơ nước đục... Ai sẽ thắng, và ai sẽ thua? Hàng nghìn khách sạn sẽ mọc lên, ngành du lịch tâm linh ở Lâm-tì-ni sẽ trở thành một kỹ nghệ béo bở. Thánh địa Lâm-tì-ni sẽ trở thành một "quyền lực mềm" của một quốc gia lãnh đạo nào hay một chủ nghĩa chính trị nào đây?
            Một vài tư liệu cho biết rằng vua A-dục bãi bỏ thuế khóa cho ngôi làng Lâm-tì-ni, trong khi đó một vài tư liệu khác thì lại cho rằng nhà vua này chỉ giảm thuế, dầu sao đi nữa thì đấy cũng không hề là một biện pháp trục lợi. Thật vậy chủ đích chính yếu của bốn ngôi chùa và trụ đá của vua A-dục là để biến Lâm-tì-ni thành một trong những nơi hành hương mang lại những xúc cảm tinh khiết cho những người tu hành chân chính hầu giúp họ đến gần với Đức Phật hơn. Vào thế kỷ thứ IV có một nhà sư Trung Quốc khác thường là Pháp Hiền, quyết tâm sang Ấn Độ để tu học. Ông khởi hành bằng đường bộ và rời Trường An năm 399, đi xuyên qua sa mạc Gobi, các vùng Tân Cương, Khotan, và sau đó là Afghanistan và Pakistan ngày nay... Ông đi ngang làng mạc và đô thị, nơi nào cũng theo Phật Giáo, dân chúng tổ chức các lễ hội thật vui và long trọng.
            Pháp Hiền đến lãnh thổ Ấn năm 402. Ông lưu lại trong vùng thung lũng sông Hằng để tu học và viếng các nơi thắng tích Phật Giáo. Sau đó ông quay lại các vùng Peshawar, Kaboul thuộc Afghanistan ngày nay để viếng thăm các vùng Phật Giáo này. Trước khi quay về Trung Quốc ông xuống miền nam nước Ấn và đến Tích Lan, nơi đây ông khám phá ra nhiều kinh sách chưa hề có ai ở Trung Quốc biết đến. Năm 413 ông rời Tích Lan bằng đường biển để trở về quê hương. Trên đường ông suýt chết vì ghe bị đắm. Ông ghé được vào đảo Java của Indonesia, và tại nơi này ông gặp nhiều người đồng hương sang đây tu học. Lúc đó đảo Java chưa có ngôi đền Borobudur, vì ngôi đền nổi tiếng này chỉ bắt đầu được xây dựng vào khoảng thế kỷ thứ VIII. Sau đó ông lại tìm ghe khác để trở về Trung Quốc. Trong chuyến trở về quê hương này có thêm bốn nhà sư khác tháp tùng, thế nhưng chỉ có mình ông là sống sót và về đến được Trường An vào năm 414. Ông để ra hai năm để viết quyển hồi ký mang tựa là "Phật Quốc Ký" thuật lại cuộc hành trình mười lăm năm của mình ở Ấn  Độ và Tích Lan. Vài năm sau đó thì ông qua đời.
            Hành hương và tu học là ý chí và lòng nhiệt tâm của một con người và đôi khi cũng là lý tưởng của cả một đời người. Sự thúc đẩy đó không cần đến sự hậu thuẫn của các diễn đàn, liên đoàn, ngân hàng, hay sự hậu thuẫn chính trị của các đảng phái hoặc một quốc gia nào cả, cũng không cần đến các tổ chức du lịch đan vào nhau như một mạng lưới ở khắp các quốc gia Phật Giáo. Chắc hẳn rồi đây chúng ta sẽ có thể đến viếng Lâm-tì-ni thật dễ dàng theo các tour du lịch rẻ tiền. Trong số những người hành hương tất sẽ có những người thật thà, dành dụm chắt chiu để cúng dường, hầu góp phần mang lại lợi nhuận cho những số vốn đầu tư hàng tỉ đô-la. Thế nhưng cũng có những người giàu có cúng dường để trấn an lương tâm mình. Dầu sao thì chúng ta cũng rất có thể sẽ đến Lâm-tì-ni bằng các tour du lịch với chương trình một hoặc hai tuần có người hướng dẫn chuyên nghiệp có thể nói được nhiều ngôn ngữ khác nhau, nhằm giúp chúng ta cầu xin được thêm một ít phước lành. Có mấy ai nhớ được là Đức Phật sinh ra dưới một gốc cây ở một nơi cách biệt với cung điện của vua cha, và sau này chỉ có một bình bát trên tay, thì làm thế nào ban phước lành và sự giàu có cho chúng ta được. Âu châu văn minh ngày nay cũng chẳng khá hơn, chẳng hạn như ở một nước rất sùng đạo, trong các vùng thôn quê, làng này đồn đại và rỉ tai là làng kia có xảy ra phép lạ nhờ đi hành hương và uống nước thánh. Bọn trục lợi quả thật khéo léo và tài tình, xe của các tour du lịch đầy ắp những người nông dân chất phác và những người lớn tuổi thật thà. Các nước có thánh địa tiếp rước hàng triệu du khách mỗi năm, mạng lưới du lịch tâm linh thật nhộn nhịp khắp Âu Châu và thế giới. Hình ảnh những người hành hương thành kính thường xuyên được đưa lên thật khéo léo trên truyền hình. Đấy vừa là "quyền lực mềm" vừa là một nguồn tài chính khổng lồ cho một số quốc gia Ấu Châu. Cái mô hình đó đang được xuất cảng sang Á Châu.
            Vào thế kỷ thứ VII, giữa thời kỳ vàng son của nền văn minh Trung Quốc và sự phát triển cao độ của Phật Giáo ở xứ sở này, người ta lại thấy có một nhà sư khác thường khác là Huyền Trang. Ông rời Trường An vào năm 629 sang Ấn hành hương và tu học. Ông đi ngang các vùng Tây Vực theo Phật Giáo mà nhà sư Pháp Hiền đã đi ngang trước đó hơn hai thế kỷ. Vào thời kỳ mà Huyền Trang đi ngang các vùng này thì nhiều nơi đã hoặc đang trở thành Hồi Giáo. Bởi vì tôn giáo này được hình thành ở nước Á Rập Saudi vào thế kỷ thứ VII đang phát triển rất nhanh trong toàn vùng Trung và Cận Đông. Nói chung thì những gì nhà sư Huyền Trang trông thấy đấy là những hiện tượng mà Phật Giáo gọi là vô thường.
            Huyền Trang quay về Trung Quốc mười sáu năm sau tức là vào năm 645. Ngoài số kinh sách mang về còn có một quyển nhật ký của ông mang tựa là " Đại Đường Tây Vực Ký" ghi chép những gì do chính ông tai nghe mắt thấy nơi xứ sở của Đức Phật và các nơi thắng tích trong thung lũng sông Hằng. Hai quyển sách "Phật Quốc Ký" và " Đại Đường Tây Vực Ký" trên đây là hai tài liệu vô giá về Phật Giáo trên đất Ấn và cả lịch sử của quốc gia này. Quyển "Phật Quốc Ký" của Pháp Hiền được dịch sang tiếng Pháp và tiếng Anh rất sớm từ hậu bán thế kỷ XIX.
            Một nhà khảo cổ người Đức là Alois-Anton Führer dựa vào quyển "Phật Quốc Ký" của Pháp Hiền đã tìm được vị trí của Lâm-tì-ni vào năm 1896. Một năm sau người ta tìm thấy trụ đá và sau đó là các lớp nền của bốn ngôi chùa do vua A-dục xây dựng. Khởi đầu Lâm-tì-ni là một khu vườn thanh tú dưới triều đại của vua Tịnh Phạn, sau đó đã trở thành một ngôi làng trù phú và một thắng tích thiêng liêng dưới triều đại của vua A-dục, và sau cùng là một vùng hoang sơ và nghèo nàn khi nhà khảo cổ Alois-Anton Führer đến đây.
            Vào thế kỷ XIV nhà vua Ripu Malla của xứ Nepal hành hương nơi này và đã cho ghi khắc thêm trên trụ đá của vua A-dục một câu đánh dấu cuộc viếng thăm của mình, và đấy cũng là dấu tích lịch sử cuối cùng của Lâm-tì-ni. Lý do của sự yên lặng hay quên lãng đó của Lâm-tì-ni cũng không phải là quá khó hiểu. Các đạo quân Hồi Giáo tràn vào đất Ấn vào thế kỷ XII đã sử dụng mọi phương tiện để tận diệt Phật Giáo và cả Ấn Giáo. Thế nhưng đối với Ấn Giáo thì hình như các đạo quân Hồi Giáo có phần nương tay hơn. Có thể là vì Ấn Giáo cũng là một tín ngưỡng tin vào Thánh Kinh và một Đấng Toàn Năng gần tương tự như Hồi Giáo? Một lý do khác là Ấn Giáo là một tín ngưỡng mang tính cách đại chúng, sự sinh hoạt ăn sâu vào gia đình và làng mạc, trong khi đó thì Phật Giáo có những tổ chức tập thể lộ liễu hơn, chẳng hạn như tăng đoàn của đại học Na-lan-đà gồm hơn mười ngàn nhà sư. Sau thế kỷ XIII có thể nói là Phật Giáo đã hoàn toàn biến mất ở Ấn Độ, trong khi đó thì Ấn Giao hồi phục nhanh hơn. Tóm lại Lâm-tì-ni chìm sâu trong sự quên lãng của lịch sử kể từ thế kỷ XV cho đến khi nhà khảo cổ người Đức tìm đến nơi này vào cuối thế kỷ XIX.
            Có một nhân vật trong lịch sử Phật Giáo ít người chú ý đến, thế nhưng lại là một trong những nhân vật có công lớn nhất và không thể nào chối cãi được, ấy là vịquốc sư Ưu-bà-cúc-đa dưới triều đại của vua A-dục. Ông không nổi danh như Long Thụ, Vô Trước, Bồ-đề Đạt-ma, Huệ Năng hay Đạo Nguyên... Thật vậy ông không phải là một luận sư hay triết gia và cũng không hề sáng lập ra một học phái nào cả, thế nhưng chính ông là người đã giúp vua A-dục đến gần với Phật Giáo, đã khuyên vua A-dục xây cất hàng chục ngàn bảo tháp để phân tán xá lợi ra khắp mọi nơi trong đế quốc của mình giúp người dân đến gần với Đạo Pháp và Đức Phật hơn. Thật vậy các phương tiện di chuyển của hơn hai ngàn năm trước có phải như ngày nay đâu. Ưu-bà-cúc-đa cũng là người chủ xướng việc kết tập Đạo Pháp lần thứ ba và cũng đã chủ tọa đại hội này để thanh lọc những gì thêm thắt và dị đoan trong một giai đoạn phát triển hỗn tạp và quá nhanh của Phật Giáo, nhờ vào sự ưu đãi của hoàng triều A-dục. Chinh là nhờ vào lần kết tập này, Luật Tạng và Kinh Tạng được hình thành thật tinh khiết và được truyền bá đi khắp nơi. Nếu Ưu-bà-cúc-đa đã đứng bên cạnh vua A-dục khi nhà vua này ra lệnh xây dựng bốn ngôi chùa và trụ đá ở Lâm-tì-ni, thì ông cũng đã đứng sau lưng vị vua này trong các chương trình hoằng Pháp xa hơn thung lũng sông Hằng và bên ngoài biên giới của đế quốc Maurya. Sự âm thầm và khiêm tốn đó của một nhà sư chân chính thật hết sức tương phản với các âm mưu và những sự khuấy động của các nhân vật như Pushpa Kamal Dahal, Kenzo Tange, Xiao Wunan, Kwaak Young Hoon, Karan Singh, Jayadeva Ranade... và cả đám trục lợi cá mè một lứa, do ký giả Frédéric Robin nêu lên trong bài báo trên. "Vinh dự" duy nhất mà Ưu-bà-cúc-đa có lẽ cũng không mong muốn và cũng không hề chờ đợi, là sau này người ta xếp ông với ít nhiều gượng ép, đứng vào hàng thứ năm trong danh sách các vị tổ của Thiền Tông.
            Cách nay ít lâu người dịch có viết một bài ngắn về "Câu chuyện một con đường", thuật lại cuộc hành trình của một người tu tập. Trên con đường đó có những người đi ngược chiều mà người tu tập phải tránh ra để không đâm sầm vào họ. Hai bên vệ đường diễn ra những cảnh cướp giật, đâm chém, bom nổ, nhà cháy, cầu sập, có những sòng bài, nhà hát tấp nập và cả những hố sâu, vực thẳm... Chúng ta không nên dừng lại để tham gia vào những thứ ấy, cũng không nên kéo nhau ra hai bên vệ đường để tả xung hữu đột. Nói thế không có nghĩa Phật Giáo là một tín ngưỡng chủ trương phải bịt tai, bịt mắt và bịt miệng tương tự như hình ảnh của ba con khỉ. Bước vào con đường tức đã là một một sự dấn thân rồi, thế nhưng sự dấn thân ấy không hề bắt buộc chúng ta phải mù quáng, trái lại chúng ta phải nhìn thấy những gì đang xảy ra ở hai bên vệ đường hầu giúp chúng ta ý thức được là mình phải nhanh chân và bước những bước vững chắc hơn. Và đấy cũng chính là mục đích của bài chuyển ngữ bé nhỏ này.
                                                                        Bures-Sur-Yvette, 26.09.13
                                                                         Hoang Phong chuyển ngữ

Thứ Tư, 9 tháng 10, 2013

Sếp tui tự cải đạo? (Oct 2013)

Sếp cũ quay lại, tiếp tục “đè đầu cưỡi cổ” mình. Đang nhậu với nhau, cũng không nhớ tại làm sao mà tự dưng quay qua nói chuyện tôn giáo. Sếp bảo tao giờ theo Công giáo. Trước đây tao không tin vào tôn giáo, chỉ tin bản thân. Gần đây, tao tự hỏi những cái tao theo đuổi, những niềm vui nỗi buồn nó có ý nghĩa gì? Tao thấy không có ý nghĩa gì lớn lao cả, nhưng Công giáo cho tao câu trả lời. Thêm nữa, bố mẹ tao theo Phật giáo nhưng Phật giáo bên HQ thì họ cứ ở trên núi, ít có cơ hội tiếp xúc. Tin lành thì quá hung hăng, chai mặt, không ưa nổi. Còn Công giáo thì khiêm tốn hơn. Vợ tao lại theo Công giáo, thế nên tao cũng bị ảnh hưởng.
Ặc. Người ngày xưa cứ hay tự đắc “I believe only in myself” bây giờ thành ra thế này đây. Cũng không sao. Marx đã nói tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân mà (phải mở ngoặc là rất có thể ông Marx chỉ nói đến tôn giáo độc thần bên châu Âu hồi đó thôi). Ai thấy được an ủi trong Thiên chúa thì để họ được an ủi. Chỉ có điều mình cảm thấy cái ông sếp này ngày xưa chỉ nói “I believe only in myself” một cách rỗng tuyếch.

Trận chiến vịnh Lepanto và phép lạ của chuỗi mân côi (Oct 2013)

http://en.wikipedia.org/wiki/Battle_of_Lepanto_(1571)


Chuyện này nghe ở nhà thờ Ba Chuông hôm rồi. Không nhớ linh mục xứ Nghệ đọc bài gì trong kinh thánh, nhưng ông giảng về cuộc chiến vịnh Lepanto và khuyên giáo dân lần hạt mân côi cầu nguyện với Mary. 

Nghe ổng giảng thì thấy hay quá, ngày xưa phe Thiên chúa châu Âu uýnh nhau với đế quốc Hồi giáo Ottoman, khi quân Hồi giáo quá mạnh sắp tràn đến nuốt chửng châu Âu thì phe Thiên chúa giáo châu Âu hợp lại và lạ thay, may thay, đánh bại quân Hồi giáo trong một trận hải chiến ngắn ngủi. Hóa ra, nhờ hồng phúc Thiên chúa, cụ thể là nhờ ông Pius V là giáo hoàng khi đó đã cầu nguyện mẹ Mary xin với Thiên chúa nên phe Thiên chúa giáo châu Âu đã chiến thắng vẻ vang. Giáo dân nghe xong tin xái cổ. Được thể linh mục kể luôn chuyện Trại Gáo, Mỹ Yên, nhắc rằng chính quyền CS này luôn luôn bách hại giáo hội nhưng nếu giáo dân noi gương Pius mà cầu nguyện thì sẽ chiến thắng. Ai không thấy thì tin!!! Haha.

Đọc lại lịch sử thì thấy trận chiến vịnh Lepanto đúng là chóng vánh, nhưng quân Thiên chúa giáo đâu có yếu quá so với quân Hồi giáo như ông linh mục nói mà thật ra cũng một chín một mười so với quân Hồi giáo; quân Thiên chúa giáo lại có ưu thế vượt trội gấp gần 3 lần về vũ khí là súng (1815 khẩu của phe Thiên chúa giáo so với 741 khẩu của phe Hồi giáo). Đánh nhau mà hơn nó cái vũ khí là thắng rồi chứ có gì là lạ đâu. Đúng là bá láp!