Trang

Thứ Tư, 23 tháng 12, 2015

Juliet thương yêu,



Nay con đã được 10 tuổi, nên bố muốn viết cho con về một điều rất quan trọng với bố. Con có bao giờ tự hỏi làm sao mà ta biết được những gì ta biết. Ví dụ như làm sao ta biết được các vì sao, vốn giống như những lỗ thủng nhỏ li ti trên bầu trời, thực ra là những quả cầu lửa khổng lồ như Mặt trời và chúng ở rất xa ta. Hay làm sao ta biết được Trái đất là một quả cầu nhỏ hơn quay vòng quanh Mặt trời, một trong những vì sao đó?

Câu trả lời cho những câu hỏi đó chính là "bằng chứng". Đôi khi bằng chứng có nghĩa là ta thực sự thấy được chúng (hoặc nghe thấy, cảm thấy, ngửi thấy, ...) là thật. Các phi hành gia đã bay ra khỏi Trái đất đủ xa để tận mắt thấy rằng Trái đất hình tròn. Đôi khi mắt của ta cũng cần trợ giúp. Sao hôm trông như một đốm sáng lấp lánh trên bầu trời, nhưng với kính viễn vọng, con có thể thấy đó là một quả cầu rất đẹp, chính là hành tinh mà ta gọi là Venus. Điều gì con học được bằng trực tiếp nhìn thấy (hoặc nghe thấy hoặc cảm giác thấy ...) được gọi là sự quan sát.

Thông thường bằng chứng không chỉ đơn giản là quan sát, nhưng sự quan sát luôn là cơ sở của bằng chứng. Nếu như có một vụ án mạng, thì thường chẳng có ai ngoài kẻ giết người và nạn nhân được chứng kiến sự việc ấy. Tuy nhiên các thám tử có thể thu thập rất nhiều điều bằng cách quan sát những việc khác, và chúng có thể đều chỉ đến một kẻ tình nghi cụ thể nào đó. Nếu dấu vân tay của một người khớp với dấu vân tay tìm thấy trên một con dao găm, đó là bằng chứng cho thấy anh ta đã cầm vào nó. Như thế không chứng minh ngay được là anh ta đã gây án, nhưng có thể hữu ích khi liên kết với nhiều bằng chứng khác. Đôi khi người thám tử có thể suy nghĩ về nhiều hướng quan sát khác nhau và đột nhiên nhận ra chúng đều ăn khớp với nhau và hợp lý nếu người bị tình nghi đúng là kẻ gây án.

Các nhà khoa học, là những chuyên gia trong việc tìm ra điều gì là sự thật về thế giới và vũ trụ, cũng làm việc như những thám tử. Họ phỏng đoán (đưa ra giả thuyết) về điều có thể là sự thật. Rồi họ tự nhủ: nếu điều này là thật, thì sẽ phải thế này, thế kia. Điều đó gọi là tiên đoán. Ví dụ, nếu Trái đất đúng là tròn, ta có thể tiên đoán một người du hành, đi mãi đi mãi theo một hướng cuối cùng sẽ quay trở lại đúng nơi anh ta bắt đầu. Khi bác sỹ nói con bị bệnh sởi, không phải là bác sỹ nhìn con và thấy bệnh sởi đâu. Đầu tiên bác sỹ sẽ quan sát và phỏng đoán là con có thể đã bị bệnh sởi. Rồi ông tự nói nếu cô bé này bị sởi, thì mình sẽ phải thấy như thế này, thế này ... Rồi ông rà soát lại những tiên đoán của mình, và kiểm tra lại bằng mắt (để xem con có nốt đỏ không), bằng tay (để xem trán con có nóng quá không), bằng tai (để nghe xem ngực con có thở khò khè như bị sởi không). Chỉ sau đó ông mới quyết định và nói "tôi đã chẩn đoán thấy rằng cô bé bị sởi". Đôi khi bác sỹ cần phải làm một số xét nghiệm như xét nghiệm máu, hoặc X quang, để giúp cho mắt, tay, và tai của bác sỹ trong việc quan sát. 

Cách các nhà khoa học sử dụng những bằng chứng để tìm hiểu về thế giới này thì thông minh và phức tạp hơn nhiều so với những gì bố có thể viết ra trong bức thư ngắn như thế này. Nhưng bây giờ bố muốn nói tiếp về nội dung bằng chứng; bằng chứng là lý do rất tốt để ta tin vào điều gì đó, và bố muốn cảnh báo con về ba lý do không tốt để ta tin vào bất kỳ điều gì. Chúng được gọi là "truyền thống", "thẩm quyền" và "mạc khải".

Điều thứ nhất, truyền thống. Mấy tháng trước, bố lên truyền hình và có một cuộc nói chuyện với khoảng 50 em nhỏ. Các em này được mời đến vì các em đều được nuôi dạy theo nhiều tôn giáo khác nhau. Một số được nuôi dạy theo Thiên chúa giáo, số khác theo Do thái giáo, Hồi giáo, Ấn độ giáo, hoặc đạo Sikh. Người đàn ông cầm microphone đi đến từng em và hỏi các em tin vào điều gì. Câu trả lời của các em phản ánh chính xác là điều bố muốn nói; đó là truyền thống. Lòng tin của các em hóa ra không có liên hệ gì với bằng chứng. Các em chỉ thốt ra những gì thuộc về đức tin của ông bà, cha mẹ các em, mà những đức tin này đến lượt chúng cũng không hề dựa trên bằng chứng. Các em nói "chúng tôi là người theo Ấn độ giáo tin thế này, thế kia", "chúng tôi người Hồi giáo tin thế này, thế nọ", "chúng tôi người Thiên chúa giáo tin vào những điều khác".

Rõ ràng là vì họ tin vào những điều khác nhau nên không thể tất cả đều đúng được. Người cầm microphone có vẻ cho rằng điều này cũng khá phù hợp, và anh ta thậm chí không yêu cầu các em phải tranh luận về sự khác nhau này. Nhưng đó không phải là điều bố muốn nói. Bố chỉ muốn hỏi niềm tin của các em từ đâu mà ra. Từ truyền thống mà ra. Truyền thống có nghĩa là những niềm tin được trao lại từ ông bà cho cha mẹ rồi cho con cái, cứ thế tiếp tục. Hoặc từ sách vở được truyền lại qua hàng thế kỷ. Những đức tin có từ truyền thống thường có một sự khởi đầu gần như bằng không; có lẽ một người nào đó ban đầu đã chế ra, như những câu chuyện về thần Thor, thần Zeus. Nhưng sau khi đã được truyền lại qua vài thế kỷ, thì việc câu chuyện đã có từ rất lâu sẽ khiến chúng trở nên đặc biệt. Người ta tin vào điều gì đó đơn giản chỉ vì đã có nhiều người tin vào nó qua nhiều thế kỷ. Đó là truyền thống.

Vấn đề đối với truyền thống là bất kể thời gian đã bao lâu kể từ khi câu chuyện đầu tiên được chế ra, thì nó vẫn là sự thật hoặc không phải là sự thật, y như câu chuyện đầu tiên vậy. Nếu ta chế ra một câu chuyện không có thật, và truyền lại nó qua bao nhiêu thế kỷ đi nữa thì cũng không khiến nó thật hơn tý nào!

Hầu hết mọi người ở Anh đã được rửa tội theo nhà thờ Anh giáo, nhưng đây chỉ là một trong số rất nhiều nhánh khác nhau của Thiên chúa giáo. Còn những nhánh khác như giáo hội Cơ đốc ở Nga, Thiên chúa giáo La Mã, hay giáo hội Methodist. Họ đều tin vào những điều khác nhau. Đạo Do thái và đạo Hồi cũng có những điểm khác nhau; và cũng có nhiều kiểu Do Thái giáo và nhiều kiểu Hồi giáo. Có những người với lòng tin hơi khác nhau là có thể dẫn đến chiến tranh chỉ vì sự bất đồng này. Con có thể cho rằng họ hẳn là phải có lý do rõ ràng, tức bằng chứng, thì mới tin vào những gì họ tin. Tuy nhiên sự thật là niềm tin khác nhau của họ hoàn toàn là do họ có những truyền thống khác nhau.

Hãy thử nói về một loại truyền thống cụ thể. Người theo Thiên chúa giáo La Mã tin rằng Mary, mẹ của Jesus, là một người đặc biệt nên bà đã không chết mà đã được phép hồn xác lên trời. Một số truyền thống Thiên chúa giáo khác không đồng ý như vậy, họ cho rằng bà Mary cũng đã chết như bất kỳ người nào khác và họ không nói nhiều về Mary; không giống như người theo Thiên chúa giáo La Mã, họ không gọi bà là mẹ Thiên chúa. Truyền thống cho rằng thân xác của Mary đã được lên trời thật ra cũng không phải đã có từ rất lâu. Kinh thánh không nói gì về việc bà chết thế nào và khi nào; đúng ra mà nói, Kinh thánh rất ít đề cập đến người phụ nữ đáng thương này. Niềm tin rằng thân xác của bà đã được lên trời chưa hề được tạo ra cho đến khoảng thế kỷ thứ 6 tính từ thời Jesus. Đầu tiên đó chỉ là một chuyện được chế ra, cùng với cách như bất kỳ chuyện nào kiểu như truyện Bạch Tuyết được chế ra. Nhưng rồi qua bao thế kỷ, nó biến thành một truyền thống và người ta bắt đầu coi trọng nó chỉ vì câu chuyện đã được truyền qua rất nhiều thế hệ. Truyền thống càng cổ xưa thì người ta càng coi trọng. Cuối cùng câu chuyện này được biến thành niềm tin chính thức của giáo hội La Mã vào thời điểm cũng rất mới đây thôi: năm 1950. Tuy nhiên, câu chuyện này cũng chẳng có thêm sự thật nào tại thời điểm năm 1950 so với khi nó được chế ra 600 năm sau khi Mary chết.

Bố sẽ quay trở lại chủ đề truyền thống vào cuối lá thư, với một cách nhìn khác. Nhưng bây giờ bố muốn nói tiếp về hai lý do không tốt còn lại để ta tin vào bất kỳ điều gì, đó là "thẩm quyền" và "mạc khải".

Thẩm quyền, khi là lý do để tin vào điều gì đó, có nghĩa tin vì ta được ai đó rất quan trọng bảo phải tin. Trong giáo hội Thiên chúa giáo La Mã, Giáo hoàng là người quan trọng nhất, và người ta tin ông nói là đúng vì ông là Giáo hoàng. Với một nhánh của Hồi giáo, những người quan trọng là những ông già có râu gọi là Ayatollah. Nhiều người Hồi giáo trẻ tuổi sẵn sàng giết người, đơn giản chỉ vì một vị Ayatollah ở một nước xa xôi nào đó bảo họ làm vậy.

Khi bố kể rằng chỉ đến năm 1950 thì giáo hội Thiên chúa giáo La Mã cuối cùng mới yêu cầu giáo dân phải tin rằng thân xác của Mary đã được đưa lên trời, ý bố là vào năm 1950, Giáo hoàng bảo giáo dân phải tin vào điều này. Đơn giản chỉ có vậy. Giáo hoàng đã nói thế là sự thật, thì sự thật là thế! Thế nhưng, trong đời mình, có lẽ một số điều Giáo hoàng đã nói là sự thật, và cũng có một số điều khác thì không. Chẳng có lý do gì mà chỉ vì ông ta là Giáo hoàng nên ta phải tin mọi điều ông ta nói ra, so với việc ta tin mọi điều mà nhiều người khác cũng nói. Giáo hoàng hiện nay đã ra lệnh cho các giáo dân không được giới hạn số con mà họ có. Nếu giáo dân răm rắp tuân theo thẩm quyền của Giáo hoàng như ông ta mong muốn thì kết quả sẽ là những nạn đói thê thảm, bệnh tật, và chiến tranh, bởi vì nạn nhân mãn.

Tất nhiên là có lúc bản thân chúng ta không thấy được bằng chứng, ngay cả trong khoa học cũng có chuyện này, và chúng ta phải dựa vào lời nói của người khác. Ví dụ bố cũng chưa từng bao giờ tận mắt chứng kiến ánh sáng đi với tốc độ 186.000 dặm một giây. Thay vào đó, bố tin vào những gì trong sách nói về vận tốc ánh sáng. Điều này có vẻ giống như trường hợp "thẩm quyền". Tuy nhiên, trên thực tế nó tốt hơn thẩm quyền vì những người viết những cuốn sách đó đã thấy bằng chứng và bất kỳ ai cũng có thể xem xét kỹ càng những bằng chứng này nếu muốn. Như vậy thật là yên tâm. Ngược lại, các tu sỹ lại không bao giờ tuyên bố được rằng có bằng chứng cho câu chuyện về thân xác của bà Mary được đưa lên thiên đàng.

Lý do không tốt thứ ba để ta tin vào bất kỳ điều gì được gọi là "mạc khải". Nếu con hỏi Giáo hoàng vào năm 1950 rằng làm sao ông biết được thân xác bà Mary đã biến lên trời, hẳn ông sẽ trả lời rằng điều này được mạc khải cho ông biết. Ông đã đóng cửa ở trong phòng kín và cầu nguyện xin chỉ dẫn. Ông cứ suy đi nghĩ lại một mình, và rồi ông càng lúc càng cảm thấy chắc chắn về điều này. Khi những người có đức tin tôn giáo cảm thấy một điều gì đó là sự thật, mặc dù không có bằng chứng nào cho thấy đó là sự thật, thì họ gọi cảm giác đó là sự mạc khải. Không chỉ có các giáo hoàng tuyên bố họ mới được mạc khải, mà rất nhiều người có tôn giáo cũng như thế. Đây là một trong những lý do chính để họ tin vào điều họ tin. Thế nhưng liệu đó có phải là lý do tốt không?

Giả sử bố bảo con rằng con chó của con đã chết. Chắc hẳn con sẽ rất giận, có thể con sẽ hỏi lại "Bố có chắc không? Làm sao bố biết? Chuyện đó xảy ra thế nào?" Giả sử bố trả lời thế này "Bố thực sự không biết được là Pepe đã chết. Bố không có bằng chứng gì cả. Bố chỉ cảm thấy trong lòng là nó đã chết rồi thôi". Thể nào con cũng phát cáu vì bố đã hù dọa cọn bởi vì con biết rằng cái "cảm thấy trong lòng" không thể nào là một lý do tốt để tin rằng chú chó đua này đã chết. Con cần thấy bằng chứng. Tất cả chúng ta đều có lúc cảm thấy điều gì đó trong lòng, và đôi khi điều này hóa ra là đúng, nhưng cũng có khi là sai. Hơn nữa, mỗi người đều có cảm giác khác nhau, có khi trái ngược, vậy làm sao ta biết được cảm giác của ai là đúng? Cách duy nhất để biết được liệu con chó có đã chết hay không là thấy nó chết, hoặc không nghe thấy tim nó còn đập, hoặc được một ai đó đã nhìn thấy hoặc nghe thấy những bằng chứng thực tế cho thấy nó đã chết.

Người ta có khi nói rằng ta phải tin vào cảm giác sâu trong tâm khảm mình, nếu không thì ta chẳng bao giờ có thể chắc chắn về những điều như là "vợ tôi yêu tôi" cả. Thế nhưng đó là một kiểu lý sự tồi. Có nhiều điều chứng tỏ ai đó yêu ta. Ví dụ như cả ngày con đều ở cùng với người thương yêu con, con thấy và con nghe mỗi bằng chứng nhỏ đó, và chúng tổng hợp lại. Như thế thì không hoàn toàn chỉ là cảm giác trong lòng như điều mà các tu sỹ gọi là mạc khải. Chúng ta có những điều khác thể hiện bên ngoài để hỗ trợ cho cảm giác trong lòng như ánh mắt nhìn, như những lời yêu thương để lại trong hộp thư thoại, những chi tiết nhỏ về sự chăm sóc ân cần dành cho nhau. Đó đều là những bằng chứng rất thật.

Đôi khi người ta có cảm xúc mãnh liệt rằng ai đó yêu quý họ nhưng lại không có bằng chứng gì hết, và thường thì cảm xúc đó hóa ra là sai. Nhiều người cảm nhận mạnh mẽ rằng một ngôi sao điện ảnh yêu họ, trong khi thực tế thì ngôi sao ấy chưa hề gặp họ. Những người như vậy có vấn đề về trí óc. Cảm xúc trong lòng cần phải có bằng chứng làm cơ sở, nếu không thì ta không thể tin vào cảm xúc được.

Những cảm nhận trong lòng cũng rất có giá trị trong khoa học nhưng chỉ là để cho ta ý tưởng mà sau này phải kiểm tra lại bằng cách xem xét các bằng chứng. Một nhà khoa học không thể chỉ có "linh cảm" về một ý tưởng nào đó và chỉ cần "cảm thấy" là đúng. Riêng như thế là không đủ lý do để tin vào điều gì. Tuy nhiên điều này cũng có thể là lý do để dành thời gian tiến hành một thí nghiệm nào đó, hoặc xem xét theo một cách nào đó để tìm bằng chứng. Các nhà khoa học luôn dựa vào cảm nghĩ để đạt được một ý tưởng nào đó. Tuy nhiên cảm nghĩ không có giá trị gì cả cho đến khi có bằng chứng hỗ trợ.

Bố đã hứa là sẽ nói tiếp về đề tài truyền thống, và xem xét nó dưới góc độ khác. Bố muốn giải thích tại sao truyền thống lại quan trọng với chúng ta như vậy. Tất cả các loài động vật đều được tạo ra (qua một quá trình gọi là tiến hóa) để tồn tại trong thế giới mà chủng loại của chúng sống. Sư tử đã tiến hóa để sống tốt trong các vùng bình nguyên của Châu Phi. Tôm càng sống tốt trong nước ngọt, còn tôm hùm thì sống tốt trong nước mặn. Con người cũng là động vật, và chúng ta đã tiến hóa để sống tốt trong thế giới có rất nhiều ... những người khác. Hầu hết chúng ta không săn bắt để có thức ăn như sư tử hay tôm hùm, mà mua thức ăn từ những người khác mà họ thì cũng mua lại từ những người khác nữa. Có thể nói ta bơi trong biển người. Cũng như cá cần có mang để sống sót trong nước, con người cần bộ não để có thể đối phó với người khác. Cũng như biển thì đầy nước mặn, biển người thì đầy những điều khó khăn cần phải học hỏi, ví dụ như ngôn ngữ.

Con nói tiếng Anh, nhưng cô bạn Ann Kathrin của con lại nói tiếng Đức. Mỗi người nói thứ tiếng phù hợp để có thể bơi được trong biển người riêng của mỗi người. Ngôn ngữ đã được truyền lại bằng truyền thống. Không có một cách nào khác cả. Ở Anh, Pepe là tên một con chó. Ở Đức, người ta gọi nó là ein Hund. Chẳng có chữ nào chính xác hơn chữ nào, và không có chữ nào đúng hơn chữ nào. Cả hai đơn giản là ngôn từ được truyền lại. Để có thể bơi tốt trong biển người của mình, trẻ con phải học ngôn ngữ của đất nước mình, cùng với rất nhiều thứ khác về dân tộc của mình; như thế có nghĩa trẻ em phải thấm nhuần, giống như giấy thấm mực vậy, một khối lượng thông tin khổng lồ thông qua truyền thống. (Con hãy nhớ thông tin được truyền dạy lại đơn giản là những điều được truyền từ ông bà qua cha mẹ đến con cái.) Não của em bé phải thâu nhận những thông tin được truyền dạy. Nhưng em bé chưa thể nào phân biệt được những thông tin tốt và có ích, như ngôn từ trong ngôn ngữ, với những thông tin xấu và vô bổ, như tin vào phù thủy, ma quỷ, hay những cô gái trinh nguyên bất tử.

Thật là đáng buồn nhưng lại là sự thật, bởi vì rằng trẻ em phải thâu nhận những thông tin được truyền dạy lại, chúng thường tin hết mọi điều mà người lớn nói cho chúng nghe, dù đúng hay sai, dù phải hay trái. Rất nhiều điều do người lớn dạy là đúng và dựa vào bằng chứng, hoặc ít nhất thì cũng có lý. Nhưng nếu có điều gì đó không đúng sự thật, ngớ ngẩn, thậm chí xấu xa, thì cũng chẳng có gì ngăn các em tin được. Rồi khi các em thành người lớn thì họ làm gì? Tất nhiên là họ lại truyền lại cho thế hệ đi sau nữa. Vậy là một khi điều gì đó được người ta tin vào một cách mạnh mẽ - ngay cả khi hoàn toàn không đúng sự thật và ngay từ ban đầu đã không có lý do gì để tin cả - thì điều đó sẽ được tin tưởng qua nhiều thế hệ.

Liệu đó có phải là điều đã xảy ra trong tôn giáo hay không? Niềm tin có một vị thần hay nhiều vị thần, tin vào thiên đường, tin rằng bà Mary không bao giờ chết, tin rằng Jesus không có một người cha là con người, tin rằng lời cầu nguyện sẽ được đáp ứng, tin rằng rượu vang biến thành máu (thánh chúa) - tất cả những niềm tin ấy đều không có bằng chứng nào làm cơ sở. Thế nhưng hàng triệu người vẫn tin. Có lẽ là vì họ đã được thuyết phục phải tin khi họ còn rất nhỏ, đủ để tin vào bất cứ điều gì.

Hàng triệu người khác lại tin vào những điều khác nữa, vì khi còn nhỏ họ được kể cho những điều khác. Trẻ em Hồi giáo được dạy những điều khác với trẻ em Thiên chúa giáo nghe, và cả hai khi lớn lên đều hoàn toàn tin rằng mình là đúng, và người bên kia là sai. Ngay cả giữa những người Thiên chúa giáo, người theo Công giáo (Thiên chúa giáo La Mã) tin khác với người thuộc giáo hội Anh giáo hoặc Tân giáo (Episcopal), Shaker hoặc Quaker, Mormon hoặc Holy Roller, và tất cả họ đều hết sức tin rằng mình đúng còn những người kia là sai. Lý do họ có niềm tin khác nhau cũng là lý do tại sao con thì nói tiếng Anh còn Ann Kathrin thì nói tiếng Đức. Cả hai thứ tiếng, ở mỗi nước đều là ngôn ngữ đúng để giao tiếp. Tuy nhiên  không thể nói rằng các tôn giáo khác nhau thì đúng ở mỗi nước khác nhau bởi vì các tôn giáo tin vào những điều trái ngược nhau. Bà Mary không thể nào mà còn sống ở nước Cộng hòa Ireland theo Công giáo nhưng lại là đã chết ở Bắc Ireland theo Tin Lành được.

Vậy chúng ta phải làm gì? Bây giờ không dễ cho con vì con chỉ mới 10 tuổi. Nhưng con có thể thử làm việc này. Lần tới nếu có ai đó nói cho con về điều gì có vẻ quan trọng, hãy nghĩ thế này "Liệu đây có phải là điều mà người ta có thể biết được vì có bằng chứng? Hay đây là điều mà người ta tin vào là do truyền thống, do thẩm quyền, hoặc do mạc khải?" Nếu có ai đó nói con biết rằng điều gì là sự thật, hãy hỏi ngược lại "Vậy bằng chứng đâu?" Nếu họ không có câu trả lời thỏa đáng, bố hy vọng con sẽ suy nghĩ thật cẩn trọng trước khi con tin vào bất kỳ điều gì họ nói.

Bố yêu con.


(Gốc: thư của GS Richard Dawkins cho con gái Julliete, xuất hiện trong cuốn “How things are - A science toolkit for the mind” và “Devil Chaplain”)

Thứ Tư, 25 tháng 11, 2015

My reading drift

Starting in 2013, after we moved into the new house, I began to read ebook rather intensively, though not as intense as I think I could or should because my brain power has been damaged by a long period of exposing to the toxic of internet and television. I began with web design, read several books, but then realized that this is too much and too various, and without a serious career path, it can only improve my general knowledge and English, but I will not become a serious programmer. Then I moved to Richard Dawkins, my favorite writer and teacher. I call him teacher because I learned so much from his books, which he wrote with passion to educate people about science. First, it was the subject of atheism vs religion, but then I moved to evolution, which Dawkins has so much to say. I also enjoy books by other teachers, such as Jerry Coyne, whose writing is excellent.

Thứ Năm, 19 tháng 11, 2015

Genome

Đang đọc Genome được 1 nửa. Thật kinh khủng khiếp. Không lẽ chỉ cần hơn 3 tỷ năm mà tạo ra được hệ gene phức tạp như thế này? Càng nghĩ càng choáng váng. . .

Thứ Tư, 7 tháng 10, 2015

Thế quyền vs Thần quyền

http://okfaith.blogspot.com/2015/07/on-removing-oklahomas-ten-commandments.html

Sự kiện tòa án tối cao Oklahoma tuyên bố tấm bia ghi 10 điều răn của Chúa là không phù hợp để đặt trên đất của chính quyền, ở đây là tòa nhà State Capitol của bang, và yêu cầu di dời nó đi, là kết quả vụ kiện của ông Bruce Prescott, một mục sư (hoặc chức vụ đại loại như vậy) của hội thánh Baptist. Ông hiểu rõ lịch sử của hội thánh của mình, là một tổ chức tôn giáo bị đàn áp bởi một chính quyền chịu ảnh hưởng bởi một tôn giáo thù nghịch, và phải chạy sang Mỹ. Tuy nhiên, khi họ có cơ hội, họ đã không tìm cách để gây ảnh hưởng với chính quyền cho có lợi cho tôn giáo của mình, mà lại ủng hộ nguyên tắc phân tách rõ thế quyền và thần quyền. Chuyện đó đã xảy ra hàng trăm năm, và nhiều kẻ hoạt động tôn giáo muốn mọi người quên nó đi để họ có khả năng điều khiển chính quyền cho lợi ích của tôn giáo của họ. May thay, Bruce Prescott không quên. Chính ông chứ không phải những người vô thần đòi di dời tấm bia khỏi State Capitol. Trời đất, nếu như các lãnh đạo tôn giáo khác cũng được như ông Bruce Prescott thì đỡ biết bao.

Thứ Ba, 15 tháng 9, 2015

Số lượng nhiễm sắc thể vs số lượng gene

Hôm trước đọc trên web wasdarwinwrong.com có câu chuyện một cô viết thư hỏi Dawkins về sinh học, và được ông khuyên nên thi vào Oxford. Câu hỏi của cô là tại sao số lượng nhiễm sắc thể của khỉ dạng người (ape) và của người lại khác nhau, và Dawkins đã thú nhận rằng cô này đã đặt ra một câu hỏi khá hóc búa.

Không biết Dawkins đã giải quyết vấn đề này như thế nào, nhưng ở đây http://genetics.thetech.org/ask/ask69, cô Flo Pauli đã trả lời khá hay. Số lượng NST có khác nhau, nhưng lượng gene thì tương đối đồng nhất, và lý do có thể là tại thời điểm phân thành 2 loài khác nhau, 2 NST đã hợp thành 1 trong người, hoặc 1 NST đã tách thành 2 trong khỉ.

Pauli cũng giải thích tại sau lượng gene tương đối đồng nhất mà người và khỉ lại khác nhau. Đó có thể là vì chỉ một số ít gene là trực tiếp tạo ra các protein, mà các protein này thì khá giống nhau giữa 2 loài. Còn các gene kia đóng vai trò chỉ đạo các gene tạo protein. Có lẽ chính vì vậy mà não bộ của con người to hơn của khỉ.

Quá hay!

Công dụng bất ngờ của 1 cuốn kinh thánh

https://en.wikipedia.org/wiki/George_Stinney

George Stinney là một cậu bé 14 tuổi, bị 1 tòa án ở South Carolina kết tội giết người, và xử em tử hình bằng ghế điện. Vì quá nhỏ, không ngồi vừa vào ghế, nên George Stinney phải kê 1 cuốn kinh thánh dưới mông cho vừa. Thật không biết nói làm sao nữa.

Thứ Năm, 10 tháng 9, 2015

Why should I believe in what scientists say, but not what priests say?

To me, a lay person, there is no sure way to know that God exists or atoms exist. So why do I feel disbelief when the priests say something, anything, but profound relief when reading scientific books. Either way, I cannot test their hypotheses.

The thing is I do not have what the scientists have. They have good education, labs, finance, all kinds of resources necessary to reach their conclusion. And they have scientific principles and stick to those. Though I do not have what scientists have, in general I believe them because they stick to their principles and have nothing to gain from manipulating my thinking.

On the other hand, I have all the thing that the priests have. That means the brain, and only the brain. I use that tool, and it does not lead me to knowing God. Does that mean my brain is twisted and theirs are good? I think it’s much more likely that the case is the other way round.

Just a thought.

Thứ Hai, 17 tháng 8, 2015

What swimming taught me

While swimming, our body has the tendency to sink a bit, causing it difficult to breathe. It is important to stroke repeatedly to move the body forward, and the strokes should be rhythmic, whether fast or slow, and such rhythm is connected to our breath. Losing rhythm means causing confusion to our breath, and the whole movement is in chaos.

It is nothing new, but it dawns upon me that a company as a going concern is very much like a body in swimming. Once you jumped into water, you need to make movement correctly and with rhythm in order to stay afloat. If you stop, you drown. A company that is slowing down as our current state is going to have very tough job to accelerate and maintain a good body position.

Động đất ở Lisbon

Thỉnh thoảng mình vẫn tự hỏi tại sao nước Bồ Đào Nha có một thời cũng rất hùng mạnh, tranh giành quyền bá chủ biển khơi cùng Tây Ban Nha, hay Anh Quốc, mà thuộc địa và ảnh hưởng đến nay lại không đáng kể. Hóa ra là vào năm 1775, một trận động đất lớn hiếm thấy đã xảy ra ở đâu đó ngoài khơi Bồ Đào Nha, phá hủy gần hết Lisbon, làm tan vỡ những dự định chiến lược của hoàng gia. Trận động đất này còn gây ảnh hưởng lớn đến những tư tưởng tôn giáo và triết học ở châu Âu. Bồ Đào Nha là nước theo TCG thuần thành khi đó, và việc chịu tai ương trên trời rơi xuống quả thật là một điều khó có thể giải thích đối với họ nếu chỉ dựa trên kinh thánh và những gì nhà thờ rao giảng. Sau thảm họa, nhà thờ cố giải thích rằng đấng quyền năng đã trừng phạt con người vì tội lỗi. Cách giải thích cà chớn này đã phải bị dẹp bỏ, và người ta còn chỉ ra rằng khu Alfama, là khu vực ăn chơi đàng điếm của Lisbon thời đó, đã chỉ bị chút thiệt hại nhỏ so với toàn bộ khu vực xung quanh.

https://en.wikipedia.org/wiki/1755_Lisbon_earthquake

Thứ Năm, 13 tháng 8, 2015

Finish: River out of Eden

Yesterday, I finished reading River out of Eden. It is easier to read than God Delusion or Selfish Gene. Is it because I have been preparing myself by reading the hard stuffs before?

Some interesting ideas from the book:

- if you and your spouse do not share a common ancestor, that means you and your spouse belong to different family trees whose have different root but somehow evolved similarly so that the current generation can copulate and give birth to a child. Impossible.

Thứ Năm, 30 tháng 7, 2015

The truth shall set you free...

Có câu nói "the truth shall set you free", đâu như là trong kinh thánh. Ý nói là lời chúa là sự thật, và cứ theo đó thì con người sẽ được giải thoát.
Câu này có thể nói là đúng trong mọi bối cảnh, vấn đề là cái gì sẽ giải thoát sự thật. Không thể bằng cái đức tin kiểu "không thấy mà tin" quá sức dễ dãi như của TCG. Cho đến nay và có lẽ mãi mãi về sau này, khoa học và những phương pháp như "critical thinking" mới là biện pháp để giải thoát cho sự thật, để con người thực sự tự do. Còn cái kiểu độc tài sự thật như trong kinh thánh thì xin kiếu.

Thứ Hai, 2 tháng 6, 2014

Cầu chúa để đá đểu

Tân Sa Châu

May 25

Hôm đó, linh mục chủ lễ là một ông từ giáo xứ bông mai gì đó đến, nghe là chuyên phụ trách thiếu nhi. Nhưng lễ hôm đó không phải lễ thiếu nhi, và có lẽ vì vậy mà ông ta đâm hơi nói chuyện chính trị. Nhân dịp VN và TQ đang có xung đột ngoài Biển Đông vì vụ giàn khoan Hai Yang 981, ông ta kêu gọi giáo dân có lời cầu nguyện chúa cho các vị lãnh đạo VN biết lo cho dân cho nước, biết quên đi những lợi ích cá nhân, lợi ích gia đình, lợi ích nhóm, v.v.

Đúng là khốn kiếp! Khi chiến sỹ còn ngày đêm quần nhau với bọn cướp biển kia, khi chính quyền còn đang xoay đủ cách để phản kháng mà vẫn giữ hòa bình, thì ông linh mục lại lên mặt cho rằng tình thế hiện nay là do lãnh đạo ích kỷ cá nhân, lo cho lợi ích nhóm. Dầu khí cũng là một nhóm lợi ích đấy, thậm chí là nhóm lợi ích khủng nhất về tiền bạc. Quên dầu khí đi nhé, khỏi đấu tranh nữa cho mệt, cho TQ vào hút dầu thoải mái phải không linh mục? Linh mục bảo mọi người cầu nguyện thế để đất nước được an bình, ai mà chả muốn, chẳng cần ông nhắc. Thế còn chủ quyền, còn độc lập, tự do thì sao? Mất hết rồi thì hòa bình với ai?

Tại sao mấy ông sếp nhà thờ này không nhân dịp này bảo giáo dân cầu chúa dùng ơn thánh thần làm Tập Cận Bình và tập đoàn Trung Nam Hải bớt cái đầu nóng, hiểu ra đại cục, bớt nhỏ nhen ích kỷ, mà rút giàn khoan về nước. Thật ra họ mới là kẻ gây hấn, chứ có phải lãnh đạo Việt Nam đâu mà giáo dân phải cầu chúa cho lãnh đạo Việt Nam biết lo cho dân cho nước. Thật là quá hài. Mình tin rằng trong số các lãnh đạo, có người không đủ năng lực, có người cũng có chuyện lem nhem, nhưng cũng tin rằng hầu hết đều có ý chí lo cho đất nước mà chẳng cần biết chúa có giúp hay không.

Thật ra, linh mục đâu dám bảo giáo dân cầu cho đất nước được hòa bình và chủ quyền được giữ vững. Ông ta thừa biết TQ cứng đầu lắm, không dễ xuống thang đâu. Ông ta sống đủ lâu để hiểu rằng cầu nguyện chỉ là trò hề, chứ chúa chẳng có đâu mà giúp. Nếu cầu nguyện như thế rồi thực tế khác đi, thì khó mà bào chữa lắm. Chẳng thà cầu nguyện rằng chúa làm cho lãnh đạo VN bớt tham nhũng đi thì TQ sẽ rút (logic kiểu nhà thờ), thế cho nó an toàn.

Vì vậy, có thể nói đề nghị của linh mục là giáo dân cầu nguyện cho lãnh đạo Việt Nam biết lo cho dân là một đề nghị bố láo, là lợi dụng cơ hội để đá đểu lãnh đạo, để nói xấu và chia rẽ lòng người. Thật là quá khốn nạn khi họ lại thốt ra những lời như vậy vào thời điểm căng thẳng như hiện nay.

Nghe linh mục dứt lời đề nghị xong thì mình biến khỏi nhà thờ, đỡ nghe mấy lời chối tai, lại khỏi ăn bánh thánh vẽ.

Chân lý tự nhiên

CN 18/5, Ba Chuông

Đã thường nghe câu nói bất hủ của Jesus “ta là đường, là sự thật, và là sự sống”, nhưng hôm nay nghe lại câu chuyện phát sinh câu nói này, cảm giác thật khó chịu và đau đớn. Ông ta có là những gì ông ta khẳng định hay không thì chẳng ai chứng minh được. Vấn đề là tại sao con người lại quá dễ tin như vậy? Để rồi bị giáo hội dắt mũi trong mọi chuyện? Chán đến nỗi chẳng muốn nói gì nữa.

Không lẽ có ai đó tự khẳng định ta nói thật thì mọi điều người đó nói đều là thật. Loài người phức tạp lắm, không có đơn giản như vậy đâu. Ai cũng tự cho mình nói thật, Jesus cũng rứa. Vậy cái gì làm cho lắm người tin ông ta đến vậy? Trong khi những gì ông ta tự nhận, hứa, tiên đoán, đều trật lất, không có gì làm bằng chứng, ngoài một cuốn sách có nguồn gốc mờ ám, và cả gần 2 tỷ người chứng nhân đức tin sau khi đã bị nhồi sọ.

Thứ Bảy, 17 tháng 5, 2014

Linh mục làm trò

CN 11/5, Tân Sa Châu]

Đang có biến động ở Biển Đông, ở nhà thờ chống cộng Đền Chúa Cứu Thế (Kỳ Đồng), nghe nói linh mục có đá đểu chế độ bằng câu nói hai nước cộng sản tưởng là anh em nhưng lại gây nguy hiểm cho đất nước. Thật là vớ vẩn. Ai chẳng biết hệ tư tưởng giờ chẳng có ý nghĩa gì nữa. VN hay TQ đều thay đổi, và mục đích của nhà cầm quyền bây giờ là phục vụ lợi ích thực tế của đất nước, chứ đâu còn mải mê phát triển mô hình quyền lực vô sản nữa. Nếu ý thức hệ vẫn là một yếu tố chủ đạo, thì chưa chắc đã có xung đột, nói đúng ra là như vậy. Câu đá đểu của linh mục vào thời điểm này thật lạc lõng, nhưng mình tin chắc giáo dân nghe được khá là hỷ hả, bị tẩy não hết rồi còn suy nghĩ được gì nữa.

Quay lại Tân Sa Châu, mèn đét ơi, chưa từng thấy một diễn giả nào như cái ông linh mục này. Giọng thì mai mái, the thé, người gốc Bắc thì phải nhưng lại giả là Jesus cố ca vọng cổ, rồi kể một câu chuyện nhạt thếch và vô duyên rồi nhân thể hát một bài tình yêu. Nghe thật chối tai.

Đi dự mấy lễ có phép cưới ở nhà thờ, nghe thì cũng hay thật, nhưng hình như mấy bác linh mục này chỉ có vài bài xào đi xào lại. Cái gì như là đức hy sinh, chồng hy sinh cho vợ, vợ hy sinh cho chồng, như Jesus hy sinh cho hội thánh và hội thánh hy sinh cho Jesus, bla. bla. bla. Nói một hồi rồi thay chữ hy sinh bằng chữ yêu thương, lặp lại nguyên một cái mạch như vậy. bla, bla, bla. Thôi cũng đành, mấy ổng có biết gì về hôn nhân quái đâu cơ chứ.

Chủ Nhật, 4 tháng 5, 2014

Thứ Ba, 29 tháng 4, 2014

Blessed who believes but does not see

Ba Chuông, CN 27/4

Trong sự kiện phục sinh, không phải ai trong số những người gần gũi với Jesus đều chứng kiến chuyện này. Nói đúng ra là chẳng ai thấy ông ta sống dậy và ra khỏi mộ, mà chỉ nghe nói lại từ những người mà danh tính đều không rõ ràng, tự xưng là thiên thần. Thế mà khá nhiều người cũng tin. Thế rồi ông ta xuất hiện trở lại. Wow, thế thì tin quá đi chứ (ngày nay phải có bác sỹ pháp y khẳng định ông ta đã chết hẳn rồi thì chuyện ông ta sống lại mới có gì đó đáng nghiên cứu tiếp, còn lại nhiều khi là chết lâm sàng mà thôi).

Thomas, một trong các đệ tử không tin chuyện Jesus sống lại. Thế là Jesus lại xuất hiện và bảo Thomas sờ vào ông ta để tin rằng Jesus còn sống. Sau đó, Jesus nói một câu vớ vẩn nhất trên đời, mà nhà thờ lại lấy làm "ranh ngôn" để răn mọi người:

PHÚC CHO AI KHÔNG THẤY MÀ TIN

Thật lạ lùng, chúa sinh ra con người sinh ra có mắt để nhìn, có tai để nghe, có cái não để suy nghĩ, chắt lọc thông tin được mắt và tai chuyển về, vậy mà rồi chúa lại bảo chúng mày đừng có nghe, đừng có nhìn, đừng có suy nghĩ, cứ tin đi là đã phúc rồi. Phải chăng những ai không tin vì không thấy sẽ gặp họa, sẽ không được phúc? Tại sao chúa lại đòi hỏi con người phải có lòng tin mù quáng?

Nhiều chỗ trong kinh thánh, chúng ta thấy chúa rất coi thường trí tuệ con người. Đầu tiên chúa tạo ra con người không có trí khôn, rồi cũng ngăn cản con người có được trí khôn, rồi nguyền rủa con người khi họ có được trí khôn. Đó là chúa cha. Đến ông con thì lại dụ con người từ bỏ trí khôn, cứ tin đi rồi hưởng phúc. Lạ lùng thay cái đám cha con và thánh thần này. Họ là tai họa của con người chứ chả phải là hy vọng gì hết.

Thật ra, cái câu Phúc cho ai không thấy mà tin cũng buồn cười lắm, cho nên nhà thờ cũng phải ra sức thanh minh. Linh mục chủ tế cho rằng không phải cái gì ta cũng biết, cũng thấy. Đúng quá, nhưng ví dụ ổng đưa ra thì hết sức buồn cười là gió. Linh mục có vẻ không phân biệt được cái không thấy và cái không có thực. Cả hai thứ con người đều không cảm nhận được, nhưng một cái là do giới hạn về tri giác và kiến thức của con người, và một cái là chẳng thể nào mà cảm được dù tri giác và kiến thức có mở rộng tới đâu. Linh mục không phân biệt được, nên theo lý luận của ông ta thì cái ta không thấy cũng là có thực. Làm sao để biết được là có thực dù không cảm được? Do ông, bà, bố, mẹ, anh, chị, em, người thân, hàng xóm láng giềng, cha cố, thầy sáu, các loại giáo lý viên, v.v. bảo cho linh mục biết, mà nhận thức của bản thân những người ấy cũng là do ông, bà, bố, mẹ, anh, chị, em, người thân, hàng xóm láng giềng, cha cố, thầy sáu, các loại giáo lý viên, v.v. bảo cho họ biết. Cái chuỗi tưởng chừng vô tận này nó có nguồn gốc từ đất Israel cổ đại, nơi huyền thoại tôn giáo và các âm mưu chính trị đan xen lẫn nhau, tạo thành một mớ luận lý thần học quái đản nhưng chẳng có một chút bằng chứng thực tiễn nào.

Tôi chưa từng biết ông nội bà nội, nhưng tôi biết tôi có ông nội bà nội. Điều này hoàn toàn logic, và phù hợp thực tế tôi nhận biết. Tôi không thấy nguyên tử, nhưng các nhà khoa học với máy móc hiện đại đã có bằng chứng về nguyên tử, và thậm chí họ còn đang đi tìm hiểu những gì tạo thành nguyên tử nữa. Nhưng tôi chẳng thấy chúa đâu cả, và chẳng thấy chúa tồn tại để làm gì, chẳng thấy dấu vết nào của chúa trong vũ trụ, chẳng hiểu chúa tạo ra cái "công trình cứu chuộc" rối rắm phức tạp vô nghĩa kia làm gì.

Tất nhiên hầu hết những người trong nhà thờ sẽ phản đối quyết liệt. Nhưng họ có cái gì để phản bác chứ?

Sau khi đã lý luận về tại sao nên tin những gì không cảm thấy, và gán cho những gì không cảm thấy tính chất "có thật", linh mục quay sang trách móc con người không công bằng với chúa vì chỉ cảm thấy những gì bất công mà không chịu thừa nhận những gì tốt đẹp mà chúa đã làm. Rồi ổng đưa ra cái ví dụ (mà mình nghĩ là phản ví dụ thì đúng hơn) khi động đất gây ra sóng thần ở Indonesia vào năm 2004 giết chết khoảng 200 ngàn người, nhiều người đã đánh mất lòng tin vào chúa. Linh mục kể chuyện một người mẹ lo lắng vì con gái mình tuyên bố sẽ không tin vào chúa nữa sau sự kiện đó. Linh mục không kể câu chuyện kết thúc ra sao. Mình thì tự hỏi tại sao bà mẹ kia và cả ông linh mục không từ bỏ chúa luôn đi cho rồi. Giáo lý của đạo luôn cho chúa là đấng quan phòng, là nơi an ủi, chở che; chúa biết hết mọi sự, kiểm soát mọi thứ, đến con chim trời muốn rơi xuống đất còn phải đợi ý chúa. Thế thì 200 ngàn người chết có phải do ý chúa không? Chắc là không, chúa đâu có ác thế. Nhưng vậy chúa làm gì mà không ngăn cản? Chúa bận việc cách mấy thì có đáng gì bởi chúa toàn năng mà, vậy nhưng ổng cũng không ngăn cản sự kiện đó xảy ra. Vậy thì tại sao? Một số kẻ buôn thần bán thánh (của không chỉ Thiên chúa giáo) vội kết án vu vơ, rằng những người chết kia hẳn là có tội hoặc dân mấy nước bị thảm họa đã không tuân theo ý chúa, ý thần gì đó nên đã để chúa hay thánh thần giáng họa xuống. Thật là hết sức tàn nhẫn khi nhận xét như vậy. Tựu chung lại thì cách duy nhất để chúa không phải chịu trách nhiệm khi xảy ra những sự kiện thảm họa là ta phải xác định ngay từ đầu rằng chúa không hề tồn tại, chứ đừng lý luận vòng vo kẻo bị mất trí. 

Quay lại cái lý sự của linh mục, có lẽ khi một người thân của ta chết, ta nên tạ ơn chúa vì đã không lấy đi 2 người. Khi dịch bệnh xảy ra giết chết vài ngàn người, thì ta nên cảm ơn chúa là số người chết chưa đến hàng triệu. Khi thảm họa sóng thần xảy ra, ta nên cảm ơn chúa vì trái đất vẫn còn mấy tỷ người, và nếu ta không phải là những người bị chết, bị thương, hay người thân bạn bè của họ thì ta vẫn sống tốt và đó là lý do để cảm ơn chúa. Nói chung con người có thể cảm ơn chúa mãi mãi cho đến khi chết sạch thì mới thôi. Lúc đó có sáng mắt ra thì đã muộn.

Thứ Hai, 21 tháng 4, 2014

Biến cố phục sinh

Mình để ý hình như cứ đến lễ phục sinh là nhà thờ đem mấy bài sau ra đọc: chuyện Abraham lập mưu giết con là Isaac để tỏ ra là kẻ tuân phục ý chúa, chuyện chúa giết hết những con đầu lòng của người Ai Cập (kể cả súc vật nuôi trong nhà của họ) và cứu dân Israel khỏi đất Ai Cập. Đây là những chuyện quái đản nhất mà người Do Thái cổ đại nghĩ ra, thế mà từ đó đến nay vẫn luôn được đọc cho giáo dân nghe. Mình nhìn trong giáo đường, hàng trăm, hàng ngàn người ngồi nghe với thái độ thành kính thấy mà thương. Chẳng lẽ chẳng ai thấy mấy chuyện đó bịnh hoạn đến thế nào? Họ bị tẩy não hết rồi chăng?

Phải chăng nhà thờ lấy những chuyện này ra để tạo một định hướng cho giáo dân cho việc kỷ niệm ngày phục sinh, nếu họ tin được những chuyện như vậy, thì chuyện Jesus hy sinh mạng sống để chuộc tội cho những kẻ mà chính ông ta và bố đẻ ông ta kết tội, rồi ông ta lại được cứu cho sống lại, có gì khó mà không tin được. Thế nhưng công trình cứu chuộc phức tạp và rối rắm của cha con nhà chúa có vẻ chẳng ăn thua. Từ đó đến nay loài người vẫn phạm tội, mức độ còn ghê gớm hơn xưa. Người ta giết hại lẫn nhau, và làm hại đến môi trường trái đất này, với mức độ kinh khủng. Người ta vẫn sống giả dối đấy thôi. Những người có đạo cũng phạm tội. Chắc hẳn tổng thống Mỹ ra lệnh cho bỏ bom nguyên tử xuống Nhật cũng là người có đạo. Nhiều đời tổng thống Mỹ đã qua, gần như ông nào cũng phải kéo quân đi đánh nước khác, và các ông ấy không ông nào không đặt tay lên kinh thánh mà tuyên thệ khi nhậm chức. Vậy Jesus chết đi sống lại để được gì?

Hóa ra chuyện Jesus chết đi sống lại mới là nửa câu chuyện. Chúng ta không thể tự dưng hưởng cái ân phúc trời ơi đó được. Chúng ta được bảo rằng phải tin Jesus đã chết và sống lại, phải tin Jesus là con chúa, phải tin cái chết của ông ta đã cứu ta khỏi những tội lỗi mà ta bị ông ta và bố ông ta khép tội, thì ta mới được cứu. Được cứu là như thế nào? là khi chết thì sẽ không bị rơi xuống địa ngục, mà sẽ có cơ hội được lên thiên đàng (nói có cơ hội, vì còn phải qua một bước xét xử, thử thách, cải tạo tại luyện ngục, rồi nếu qua được cái lò luyện đó mới được lên thiên đàng). Và lên thiên đàng để làm gì? Để nhìn thấy mặt kẻ đã buộc tội ta, cũng là kẻ đã bày kế hoạch để con ổng bị giết để cứu cho ta khỏi những tội đó, rồi lại nhọc công cứu con ổng sống lại. Quá sức phức tạp là cái đạo này. Tại sao chúa không có cái gì đơn giản dễ hiểu và nhẹ nhàng hơn? Vả chăng, nếu Jesus chết để cứu ta, thì Jesus sống lại có phải là công cốc không?

Lý do gì mà nhà thờ lúc nào cũng đặt nặng chuyện lòng tin. Là vì giáo lý của họ chẳng có một bằng chứng nào cả, cũng chẳng có logic gì hết. Bằng chứng không, lý lẽ không, vậy lấy gì để tin. Đành ép buộc bằng mối ràng buộc gia đình, cộng đồng, bằng hô hào chính trị, hô hào tự do, bằng giở giọng cao đạo, bằng nhồi sọ con trẻ, bằng bạo lực và sự to mồm của đám đông.

Tại sao chúa là đấng sáng tạo ra loài người mà chỉ có mỗi dân Do Thái là có ghi chép về ổng? Tại sao chúa sáng tạo ra loài người mà chỉ nhận mỗi dân Do Thái làm dân riêng? Tại sao chúa không đơn giản hiện diện cho mọi dân đều biết? Tại sao chúa lại để cho các dân tộc thờ cúng những thần khác? Những thần đó ở đâu ra? Tại sao chúa lại lệnh cho người ta dẹp bỏ các thần khác mà chúa không tự làm điều đó? Trong cuộc đấu tranh của chúa cùng đám thần linh kia, tại sao con người lúc nào cũng phải đánh nhau mà các vị thần không đánh nhau? Nếu như đúng như chúa nói rằng chỉ có mình chúa là chúa, còn lại các thần khác chỉ là hư ảo, là tưởng tượng của con người, thì có gì chứng minh chúa là thật mà không phải là hư ảo, là tưởng tượng của con người? Nhà thờ nếu có chúa đứng đằng sau thì hãy chứng minh thử coi.


Thứ Hai, 14 tháng 4, 2014

Đạo buồn

CN ngày 6/4, Đa Minh

Hôm nay linh mục có bài phát biểu có ý tứ khá là lạ: ông Jesus chẳng bao giờ cười. ổng lúc nào cũng chau mày ủ dột. Quá đúng. Tất nhiên là linh mục có ý nói Jesus phải hy sinh vì tội lỗi con người này nọ, cái này đúng sai ra sao thì còn phải tranh cãi. Tự dưng mình lại suy nghĩ. Đúng là đạo Chúa sao mà cực quá. Con người khi sinh ra đã không được Chúa trời cho sự khôn ngoan, mà không có cái đó thì khác gì con vật. Nhờ con rắn chỉ bảo, mà con người đã được khôn ngoan. Ấy vậy mà lại bị Chúa nguyền rủa, đày xuống đất, bắt lao động vất vả để có cái ăn và ban cho cái án tử hình bâng quơ (các bạn nghĩ xem các loài sinh vật khác có con nào sống mãi không mà đòi con người cũng có thể sống muôn đời nếu không phạm tội?). Khi con người đông đúc lên thì Chúa ban cho họ đủ thứ tiếng, không phải để tạo ra sự đa dạng văn hóa đâu, mà là để chia rẽ con người (ổng sợ họ đoàn kết lại, lớn mạnh lên, thì sẽ xây tháp cao để lên trời đòi chia bất động sản thiên đường, LOL). Rồi ổng chế ra cái khái niệm tội lỗi, rồi bắt con ổng (mà cũng chính là bản thân ổng) chịu chết để chuộc tội cho con người, nhưng với điều kiện là họ phải tin toàn bộ câu chuyện này, thì họ mới được cứu cơ. Khổ như vậy nên Jesus cũng không cười nổi, mà giáo dân cũng phát mệt.

Mà không những Jesus không cười bao giờ, mà cả đám người liên quan cũng thế: từ ông Joseph, bà Maria, cho đến đám đệ tử dốt nát và chết nhát. Bây giờ thỉnh thoảng lại nghe nơi này nơi kia có tượng bà Maria khóc, có khi khóc ra máu. Cả thế gian này nằm trong tay các vị, thì sao các vị không từ bi hỷ xả, cười lên một tiếng, mà khóc lóc làm gì cho giáo dân thêm cuồng tín và sầu khổ, nhao nhao lên rằng bả hiện ra này nọ, rồi biến chỗ đó thành nơi hành hương lấy tiền thiên hạ.

Như thế này có phải vui vẻ hơn không?

Thánh địa La Vang và Chùa Linh Ứng

Chuyến đi miền Trung với 2 địa điểm La Vang và Sơn Trà khiến mình không khỏi so sánh 2 đạo Chúa và Phật. Đạo Chúa có Jesus là sáng lập, còn đạo Phật là Thích Ca, vậy nhưng cả 2 đạo đều phát sinh thêm 2 vị nữ thánh là Maria và Quan Âm, và các tín hữu thì hay đến xin xỏ với các nữ thánh hơn là với người sáng lập đạo. Có ai giải thích được hiện tượng này không?

Lại thấy các biển đồng, biển đá, biển nhựa các loại khắc tên tuổi các vị đã cúng dường cho thánh địa lẫn chùa. Bên La Vang còn có biển đồng của gia đình chủ nhà hàng Phương Đông (chỗ này mình làm đám cưới) hình như là đã bỏ tiền tỷ ra tu sửa. Mình chợt nghĩ tại sao các đại gia không bỏ tiền vào những nơi như trường học, bệnh viện, giúp chấn hưng khoa học giáo dục và chăm sóc sức khỏe. Vào trường học hay bệnh viện ít thấy những biển báo như vậy. Phải chăng là do trường học bệnh viện không chủ trương cho gắn biển, hay vì thực tế là chẳng có nhiều đại gia bỏ tiền vào những chốn ấy? Mình chợt nghĩ ngày nào số lượng biển đồng cúng dường cho trường học, bệnh viện nhiều lên, còn những nơi tâm linh ít đi, thì chắc chắn Việt Nam sẽ phát triển lắm thay.

Thứ Ba, 8 tháng 4, 2014

Xưng tội



Đã mấy tuần không có gì cập nhật cho blog, nhưng lạy Chúa, ngài đừng nghĩ con không giữ lời răn "đến nhà thờ ngày CN". Con vẫn đến, và vẫn nghe mấy lời Chúa nói, chỉ có điều tự dưng mất hứng không viết được nữa. Nói thiệt chứ mấy ông linh mục của Chúa nói đi nói lại có nhiêu đó thì lấy đâu ra cảm hứng???

Tuần qua, nhà thờ Ba Chuông tổ chức nghi thức xưng tội, để con chiên được sạch sẽ về tâm hồn trong khi kỷ niệm ngày Jesus được cho là sống lại. Hai lần trước xưng cái tội bố láo nhất là "vô thần", thì một lần được linh mục bảo "thôi cứ về đọc kinh thánh, tiếp xúc với Chúa nhiều vào rồi có ngày sẽ ngấm", lần sau thì bị linh mục mắng luôn "anh không tin thì thôi, tôi chẳng giúp gì được anh cả". Hehe. Lần này, linh mục có vẻ khôn phết, đoán được mình chắc đọc sách lung tung, nên bảo "thôi, đừng đọc sách này nọ gì, cứ kiếm một chỗ nào đó yên tĩnh, ngồi 15 phút mà chiêm nghiệm về cuộc đời, xem có phải là Chúa vẫn hiện diện đấy không". Lại còn nói "niềm tin này là ơn gọi, là ân sủng, chứ không phải ai cũng được đâu, nên sách vở là vô nghĩa". Đại khái là như vậy. Thôi chào cha, con về nhé.

Hóa ra đọc sách hay không đọc sách để đến với Chúa thì các linh mục vẫn chưa thống nhất được. Hai nữa là chuyện Chúa buộc tội loài người thì chẳng tha cho ai, dù hồi nguyên thủy chỉ có mỗi Adam và Eva phạm tội, mà con cháu đời đời kiếp kiếp cũng bị ghép tội. Thế nhưng khi ban ân sủng tức trao niềm tin thì Chúa chẳng cho hết thảy, mà tùy ý ngài.

Thôi thì cũng không thể trách một đấng mà sự hiện hữu là không thể biết, không thể thấy, không thể hiểu được. Có trách là trách mấy ông linh mục hay ăn nói chuyện nọ xọ chuyện kia, dùng ngôn từ hoa mỹ mà che dấu đi cái sự vô lý, để nô dịch tư duy của con người, kể cả ngay bản thân họ.