Trong sự kiện phục sinh, không phải ai trong số những người gần gũi với Jesus đều chứng kiến chuyện này. Nói đúng ra là chẳng ai thấy ông ta sống dậy và ra khỏi mộ, mà chỉ nghe nói lại từ những người mà danh tính đều không rõ ràng, tự xưng là thiên thần. Thế mà khá nhiều người cũng tin. Thế rồi ông ta xuất hiện trở lại. Wow, thế thì tin quá đi chứ (ngày nay phải có bác sỹ pháp y khẳng định ông ta đã chết hẳn rồi thì chuyện ông ta sống lại mới có gì đó đáng nghiên cứu tiếp, còn lại nhiều khi là chết lâm sàng mà thôi).
Thomas, một trong các đệ tử không tin chuyện Jesus sống lại. Thế là Jesus lại xuất hiện và bảo Thomas sờ vào ông ta để tin rằng Jesus còn sống. Sau đó, Jesus nói một câu vớ vẩn nhất trên đời, mà nhà thờ lại lấy làm "ranh ngôn" để răn mọi người:
PHÚC CHO AI KHÔNG THẤY MÀ TIN
Thật lạ lùng, chúa sinh ra con người sinh ra có mắt để nhìn, có tai để nghe, có cái não để suy nghĩ, chắt lọc thông tin được mắt và tai chuyển về, vậy mà rồi chúa lại bảo chúng mày đừng có nghe, đừng có nhìn, đừng có suy nghĩ, cứ tin đi là đã phúc rồi. Phải chăng những ai không tin vì không thấy sẽ gặp họa, sẽ không được phúc? Tại sao chúa lại đòi hỏi con người phải có lòng tin mù quáng?
Nhiều chỗ trong kinh thánh, chúng ta thấy chúa rất coi thường trí tuệ con người. Đầu tiên chúa tạo ra con người không có trí khôn, rồi cũng ngăn cản con người có được trí khôn, rồi nguyền rủa con người khi họ có được trí khôn. Đó là chúa cha. Đến ông con thì lại dụ con người từ bỏ trí khôn, cứ tin đi rồi hưởng phúc. Lạ lùng thay cái đám cha con và thánh thần này. Họ là tai họa của con người chứ chả phải là hy vọng gì hết.
Thật ra, cái câu Phúc cho ai không thấy mà tin cũng buồn cười lắm, cho nên nhà thờ cũng phải ra sức thanh minh. Linh mục chủ tế cho rằng không phải cái gì ta cũng biết, cũng thấy. Đúng quá, nhưng ví dụ ổng đưa ra thì hết sức buồn cười là gió. Linh mục có vẻ không phân biệt được cái không thấy và cái không có thực. Cả hai thứ con người đều không cảm nhận được, nhưng một cái là do giới hạn về tri giác và kiến thức của con người, và một cái là chẳng thể nào mà cảm được dù tri giác và kiến thức có mở rộng tới đâu. Linh mục không phân biệt được, nên theo lý luận của ông ta thì cái ta không thấy cũng là có thực. Làm sao để biết được là có thực dù không cảm được? Do ông, bà, bố, mẹ, anh, chị, em, người thân, hàng xóm láng giềng, cha cố, thầy sáu, các loại giáo lý viên, v.v. bảo cho linh mục biết, mà nhận thức của bản thân những người ấy cũng là do ông, bà, bố, mẹ, anh, chị, em, người thân, hàng xóm láng giềng, cha cố, thầy sáu, các loại giáo lý viên, v.v. bảo cho họ biết. Cái chuỗi tưởng chừng vô tận này nó có nguồn gốc từ đất Israel cổ đại, nơi huyền thoại tôn giáo và các âm mưu chính trị đan xen lẫn nhau, tạo thành một mớ luận lý thần học quái đản nhưng chẳng có một chút bằng chứng thực tiễn nào.
Tôi chưa từng biết ông nội bà nội, nhưng tôi biết tôi có ông nội bà nội. Điều này hoàn toàn logic, và phù hợp thực tế tôi nhận biết. Tôi không thấy nguyên tử, nhưng các nhà khoa học với máy móc hiện đại đã có bằng chứng về nguyên tử, và thậm chí họ còn đang đi tìm hiểu những gì tạo thành nguyên tử nữa. Nhưng tôi chẳng thấy chúa đâu cả, và chẳng thấy chúa tồn tại để làm gì, chẳng thấy dấu vết nào của chúa trong vũ trụ, chẳng hiểu chúa tạo ra cái "công trình cứu chuộc" rối rắm phức tạp vô nghĩa kia làm gì.
Tất nhiên hầu hết những người trong nhà thờ sẽ phản đối quyết liệt. Nhưng họ có cái gì để phản bác chứ?
Sau khi đã lý luận về tại sao nên tin những gì không cảm thấy, và gán cho những gì không cảm thấy tính chất "có thật", linh mục quay sang trách móc con người không công bằng với chúa vì chỉ cảm thấy những gì bất công mà không chịu thừa nhận những gì tốt đẹp mà chúa đã làm. Rồi ổng đưa ra cái ví dụ (mà mình nghĩ là phản ví dụ thì đúng hơn) khi động đất gây ra sóng thần ở Indonesia vào năm 2004 giết chết khoảng 200 ngàn người, nhiều người đã đánh mất lòng tin vào chúa. Linh mục kể chuyện một người mẹ lo lắng vì con gái mình tuyên bố sẽ không tin vào chúa nữa sau sự kiện đó. Linh mục không kể câu chuyện kết thúc ra sao. Mình thì tự hỏi tại sao bà mẹ kia và cả ông linh mục không từ bỏ chúa luôn đi cho rồi. Giáo lý của đạo luôn cho chúa là đấng quan phòng, là nơi an ủi, chở che; chúa biết hết mọi sự, kiểm soát mọi thứ, đến con chim trời muốn rơi xuống đất còn phải đợi ý chúa. Thế thì 200 ngàn người chết có phải do ý chúa không? Chắc là không, chúa đâu có ác thế. Nhưng vậy chúa làm gì mà không ngăn cản? Chúa bận việc cách mấy thì có đáng gì bởi chúa toàn năng mà, vậy nhưng ổng cũng không ngăn cản sự kiện đó xảy ra. Vậy thì tại sao? Một số kẻ buôn thần bán thánh (của không chỉ Thiên chúa giáo) vội kết án vu vơ, rằng những người chết kia hẳn là có tội hoặc dân mấy nước bị thảm họa đã không tuân theo ý chúa, ý thần gì đó nên đã để chúa hay thánh thần giáng họa xuống. Thật là hết sức tàn nhẫn khi nhận xét như vậy. Tựu chung lại thì cách duy nhất để chúa không phải chịu trách nhiệm khi xảy ra những sự kiện thảm họa là ta phải xác định ngay từ đầu rằng chúa không hề tồn tại, chứ đừng lý luận vòng vo kẻo bị mất trí.
Quay lại cái lý sự của linh mục, có lẽ khi một người thân của ta chết, ta nên tạ ơn chúa vì đã không lấy đi 2 người. Khi dịch bệnh xảy ra giết chết vài ngàn người, thì ta nên cảm ơn chúa là số người chết chưa đến hàng triệu. Khi thảm họa sóng thần xảy ra, ta nên cảm ơn chúa vì trái đất vẫn còn mấy tỷ người, và nếu ta không phải là những người bị chết, bị thương, hay người thân bạn bè của họ thì ta vẫn sống tốt và đó là lý do để cảm ơn chúa. Nói chung con người có thể cảm ơn chúa mãi mãi cho đến khi chết sạch thì mới thôi. Lúc đó có sáng mắt ra thì đã muộn.

.jpg)

